Tủ Truyện
022: Đại Khôi Dị Tai
...
Ký viết: Ngoài biển có tiên đảo, sóng cao không thể đến gần. Trên đảo bốn mùa cùng tồn tại, khắp nơi mọc cỏ lam, cỏ mục sinh huỳnh, ăn vào có thể trẻ lại, hoặc một đêm già nua. Đảo có cự thú, hình như quỷ, dạng như vượn, hiểu tiếng người, khéo giúp người.
Người trong thôn nói, ta là kẻ sinh nhi tri chi.
Không biết bọn hắn nghe phong thanh từ đâu, ta cảm thấy ta không phải. Chỉ là thỉnh thoảng, có vài khoảnh khắc hoảng hốt, ta nghi ngờ có người đang nhìn ta. Ánh mắt ấy có lẽ đến từ trong núi, từ con dốc nhỏ ngoài sân nhà ta, người đó tựa như ở trong đầu ta, lại tựa như ở trong cõi trời đất mịt mờ, luôn luôn không lúc nào không dòm ngó mọi thứ của ta. Ta nhắc với cha ta, cha ta nhìn những chữ xiêu vẹo trên giấy, nói ta tâm viên ý mã, không chuyên tâm tinh tấn, dùng cây gậy trúc nhỏ gõ vào lòng bàn tay ta.
Trên giấy là mấy chữ "Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang" với "Đại học chi đạo, tại minh minh đức", ta chép miệng nói với cha ta rằng mấy thứ này chán ngắt vô cùng, chán chẳng khác gì Từ lão thái gia trong làng, cha ta mắng ta không được nói bừa, vung cây gậy trúc nhỏ đuổi ta đến quán cờ học đánh cờ.
Ta không muốn đi. Quán cờ bây giờ chỉ còn một mình ta là con gái. Vốn dĩ còn một người nữa. Nàng vừa tròn mười lăm tuổi, bị bà mối trong làng cầm bát tự đi hợp duyên, mấy hôm trước đã qua sáu lễ sính. Nàng đánh cờ giỏi, người lại thanh tú, thường cho ta ít đồ ăn vặt với đồ nữ công, cứ như đang dỗ dành một đứa em gái nhỏ. Thật ra chúng ta cùng tuổi, nàng sinh vào đầu xuân, ta sinh vào tháng đông. Lần cuối nàng đến quán cờ, ta hỏi nàng có muốn gả chồng không, nàng nắm tay ta, giọng đắng chát nói chuyện ấy nào đến lượt mình tự quyết, ta bĩu môi, trong lòng nghĩ chỉ có chuyện ấy mới phải do mình tự quyết. Có lẽ vì nàng khóc quá dữ, ta bèn móc mai rùa và mấy đồng tiền ra, nói hay là ta bói cho ngươi một quẻ? Nàng rơi lệ, lắc đầu nói, dù sao cũng là số mệnh, khổ hay không đều phải tự mình gánh. Không hiểu vì sao, ta nhớ chết dí câu nói ấy của nàng.
Ở quán cờ ngày dài đằng đẵng, tiên sinh dạy chậm rì, ta thắng cờ rồi thì leo lên cây ngoài sân bắt ve, hái quả. Cây trước quán cờ e rằng đã cả trăm cả nghìn năm tuổi, ngày thường rất được tiên sinh để tâm chăm sóc, thấy ta trên cây nhảy nhót tứ tung, tiên sinh xót đến mức cờ cũng không đánh nữa, xách vạt áo đứng dưới gốc cây giậm chân, vừa thở dài vừa nói, cha ngươi đưa ngươi đến học cờ là muốn mài cho tính ngươi bớt nóng nảy, ngươi cứ không yên phận như vậy, sau này làm sao gả được cho ai đây! Ta nằm trên cành cây, trong lòng nghĩ ta cũng không biết cha ta đang nghĩ gì, mấy cô gái cùng tuổi trong xóm gần như đều đã gả đi cả rồi, riêng cha ta thì đến nhắc cũng không nhắc.
Ngày mười ba tháng đông, ngày ta cập kê, cha ta đã quét sân từ sớm, bưng ra một vò rượu lâu năm, ngồi bên cây mai trơ trụi một nửa trong sân nhà ta uống đến say mềm. Ta thấy ông nằm ngáy vang trong gió lạnh, bèn hỏi mẹ ta có cần gọi thầy lang đến sắc thuốc trước không. Mẹ ta sầm mặt kéo ta vào trong nhà, tỉ mỉ chải tóc cho ta, cài lên búi tóc một cây trâm gỗ bóng loáng, đầu trâm là một đóa hoa mai, nhụy hoa mảnh mai, hoàn toàn khác với tính tình thô ráp của ta. Ta cứ cảm thấy mẹ có điều muốn nói với ta, nhưng mẹ chẳng nói gì cả. Trở về phòng, ta móc chiếc mai rùa nhỏ và mấy đồng tiền ra, định bói một quẻ, nhưng lại không biết hỏi điều gì. Ta thò đầu ra hỏi mẹ ta, dưới gốc cây chôn có phải là Nữ Nhi Hồng không, các ngươi có phải đã nói cho ta một nhà chồng rồi không? Mẹ ta mắng ta hồ đồ, quay mặt đi. Ta giậm chân, thầm nghĩ duyên phận của mình phải do mình quyết định, vậy là túm lấy vạt áo, lê dép chạy ra ngoài.
Mẹ ta đuổi không kịp ta, đành hét lớn hỏi ta đi đâu, ta nói ta đi tìm thầy lang. Kỳ thực hôm nay trong làng không có thầy lang nào, lão thái gia làng bên tuổi thọ đã gần hết, mấy đứa con hiếu thảo của ông lão gọi hết thầy lang các làng lân cận đến, cứ như là những người ấy đến rồi thì ngăn được Diêm Vương thu mệnh. Ta xỏ giày vào, rẽ một cái ngoặt là chạy về phía sau núi.
Sau núi có một khu rừng tháp đá, người thì nói nơi ấy thờ vong hồn của chiến trường cũ, người lại nói nơi ấy trấn áp tà ma do thiên sư thu phục, ta cũng chẳng buồn đính chính. Ở đó có bốn cây kinh tràng, nhưng không phải để cúng Phật, còn có ba mươi sáu tòa tháp đá lớn nhỏ tương đương nhau, hình chế thì mỗi tòa mỗi khác, cũng chẳng giống hình chế thờ xá lợi chút nào, trên kinh tràng và tháp đá có chữ và hình vẽ, nhưng gió mưa xối xả lâu ngày mọc đầy rêu xanh, nhìn chẳng rõ. Ta từng cạy mấy hình vẽ với tay tới được, cứ cảm thấy hình như đó là câu chuyện về những vị khách từ trời ngoài đến. Nhưng chuyện ấy không được nói với người trong làng. Từ lão thái gia trong làng ta còn sống lâu lắm, nghe không lọt nửa chữ chuyện quái lực loạn thần. Ông ta nói ta là yêu tà sinh ra đã biết mọi thứ, ép cha ta làm mấy đàn pháp sự, còn chặt nửa vườn mai nhà ta. Trừ tà được hay không ta không biết, chỉ thấy cha ta xót mấy cây mai suốt bao nhiêu năm.
Những ngày không đến thư đường và quán cờ, ta thường đến đó, đó là nơi rất yên tĩnh. Cây cối xung quanh vừa cao vừa rậm, che kín ánh nắng mặt trời, gió núi xuyên qua những tòa tháp đá, phát ra tiếng huýt vù vù, giống hệt tiếng gã đồ tể trong làng phồng má thổi bong bóng lợn. Trên mặt đất mọc đầy hoa dại, cao quá đầu người, đến mùa xuân thì nở vàng trắng xen lẫn, nở kéo dài qua giữa mùa hè. Giữa những bông hoa có bướm và ong rừng bay lượn, có châu chấu dài bằng ngón tay nhảy nhót, đều biết tránh ta.
Nước sông tháng đông lạnh vô cùng, thấm ướt vạt dưới của áo bào, ta quay lại nhìn phía sau, đã không còn thấy sân nhà ta nữa. Ta bỗng thấy có chút buồn bã, nghĩ đến chuyện ngoan ngoãn quay về, ngồi trước bàn án cha ta hâm rượu tụng kinh, cung kính thưa xin ông tìm người hợp bát tự cho ta, rồi ta sẽ được mặc một bộ áo bào màu hỷ sắc, trên đầu cài đầy đồi mồi và cành hoa, cưỡi một con lừa nhỏ, đi sống hết một đời với một người chưa từng gặp mặt.
Phì. Ta bĩu môi. Cút xéo cái chuyện cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy và lời mối lái ấy đi.
Tháp đá rất tĩnh lặng, đọng một lớp tuyết mỏng, tùng bách xung quanh xanh một màu âm u, mấy cành khô dây leo nhỏ nằm ngang nằm dọc đan xen trong bụi cây. Sắc trời xám trắng, trông thật đúng là âm khí lạnh lẽo, giống hệt cái nơi mà người trong làng vẫn gọi là chốn quỷ mị hoành hành. Ta băng qua giữa những tòa tháp đá, phủi tuyết trên đó đi, năm nay ta cao hơn một chút, không chừng tìm được vài hình vẽ trước kia chưa từng thấy. Kỳ thực những hình vẽ ấy giống như mấy bài văn khó đọc khó hiểu trong miệng tiên sinh, ta cũng đọc không hiểu, nhưng cứ cảm thấy thú vị, tựa như nhìn ra được dáng vẻ của một cõi mới.
Đang lúc bới lớp rêu bùn dưới vòng đá, chợt nghe thấy phía sau có chút tiếng động, ta tưởng cha mẹ ta đến tìm ta, bèn quay phắt người lại. Sau lưng có một chiếc đèn lồng tròn màu vàng sáng, chỉ có một chiếc đèn lồng tròn màu vàng sáng, treo lơ lửng cao tít giữa không trung, còn lập lòe lập lòe. Ta chớp mắt mấy cái, bỗng nhiên nhận ra, đó không phải đèn lồng, mà là một con mắt. Ta hét lên một tiếng, cắm cổ chạy trối chết, nhưng con đường dưới chân hình như mềm nhũn ra, phong cảnh xung quanh tựa như đứng yên bất động, ta trơ mắt nhìn một bàn tay to đầy lông lá từ hư không xuất hiện, nắm ngang lưng nhấc ta lên.
"Đừng sợ, thời gian đến rồi." Ta nghe thấy một giọng nói trầm thấp, tiếp đó, cơ thể ta bắt đầu tỏa ra ánh sáng xanh mờ nhạt, ta không rõ là thứ gì đang phát sáng, nhưng ta bỗng nhớ đến cử chỉ của cha mẹ hôm nay — có phải bọn họ đã sớm biết ta sẽ phát sáng, sẽ bị một con quái vật đèn lồng tròn đầy lông lá bắt đi vào hôm nay? Bọn họ dựa vào cái gì mà không nói cho ta biết! Ta ra sức vùng vẫy, may mà bàn tay kia nắm không chặt, ta trượt xuống thuận lợi, ngã vào bùn tuyết. Ta vốc tuyết ném về phía bàn tay to ấy, hét lên chói tai: "Ngươi tránh ra, ngươi đừng chạm vào ta!" Ta không ngừng lặp lại câu này, cho đến khi bàn tay to bất đắc dĩ buông xuống, biến mất trong phong cảnh xung quanh.
Giọng nói trầm thấp lại vang lên: "Lần thứ ba mươi chín, ghép đôi thất bại."
Sau khi giọng nói này biến mất, ánh sáng xanh trên người ta cũng tan biến. Ta không màng đến người đầy nước bùn, cắm cổ chạy về nhà. Trong nhà đang bốc khói bếp, có lẽ mẹ ta đã bắt đầu nấu cơm. Ta xõa tóc, khóc lớn, đẩy cánh cửa nhà ra. Ta gây ồn ào quá lớn, cha ta từ cơn say rượu ngẩng đầu lên với đôi mắt nhập nhèm, ngơ ngác nhìn ta, tựa như nhìn thấy ma.
Ta quay đầu lại, chiếc đèn lồng tròn màu vàng sáng ấy, đang ngoan ngoãn lơ lửng sau lưng ta.
Ta kinh hãi suýt nữa không thở nổi, lồm cồm bò lăn vào sân, cha ta đứng dậy, nhìn chằm chằm chiếc đèn lồng tròn, luống cuống kéo ta ra sau lưng mình. Mẹ ta lau tay từ trong nhà bước ra, trước tiên nhìn thấy ta, vừa hỏi áo ta sao bẩn vậy, tiếp đó cũng nhìn thấy đèn lồng tròn, mẹ ta ngất thẳng cẳng, cha ta lại cuống quýt đi đỡ mẹ.
Trong sân nhà ta ồn ào dữ dội, hình như khiến chiếc đèn lồng tròn rất ngượng ngùng, hắn dừng lại trước cổng sân, ném xuống một đóa hoa màu xanh bạc rồi biến mất. Ta đợi một lát, thấy không có động tĩnh gì nữa, bèn chạy đến cổng nhặt đóa hoa mang về. Hoa không phải giống ở địa phương, màu sắc cũng cực kỳ hiếm thấy, ta đưa đóa hoa cho cha ta, cha ta không nhận, ông nói: "Của ngươi."
Ta nói: "Sao ngươi biết là của ta?"
Cha ta đi mò bầu rượu của ông, bị ta nhanh tay nhanh mắt cuỗm mất, cha ta giậm chân, nói: "Để mẹ ngươi nói với ngươi." Mẹ ta tỉnh lại rất nhanh, nghe xong lời ấy thì vô cùng không vui, phun nước bọt nói: "Ngươi chính là muốn ta làm kẻ ác!"
Ta cầm bầu rượu chỉ vào bọn họ hỏi: "Các ngươi có phải đã nói cho ta một nhà chồng rồi không?"
Cha ta thọc tay vào tay áo nói: "Cũng không đến nỗi nghiêm trọng như vậy." Mẹ ta dựa sau lưng ông, cũng thọc tay vào tay áo lẩm bẩm một câu. Bà tưởng có thể lừa cho qua, ai ngờ tai ta thính, giọng ta lại càng the thé, gào lên hỏi: "Mẹ nói con là nhặt được về ư?!" Vị lang trung đi ngang qua cửa sợ giật mình, vội vàng vòng xa hơn một chút rồi bỏ đi. Cha ta vươn cổ nói: "Lão thái gia thôn bên cạnh xem ra đã không còn rồi... nhà chúng ta có phải theo chút tiền phúng không..."
Mẹ ta lắc đầu nói: "Năm đó đến chặt cây mai, nhà bọn hắn phái người ra nhiều nhất."
Cây mai là bảo bối của cha ta, ông lập tức chém đinh chặt sắt nói: "Vậy thì thật sự không có giao tình gì rồi."
Ta xách bầu rượu, vô cùng xấu hổ đứng ngay tại chỗ, rất muốn ném bầu rượu ra để đổi lấy sự chú ý khiến bọn họ quay lại chủ đề. Nhưng tiếp đó mẹ ta nói cơm sắp khê liền vào nhà, cha ta nói muốn đi tỉnh rượu cũng theo vào nhà. Ta chỉ có thể tức hầm hầm ngồi xổm dưới gốc mai đã trụi quá nửa, hết cái này lại cái kia phe phẩy đóa hoa xanh bạc kia.
Đóa hoa ấy cành dài, đài hoa rất lớn, mang theo năm cánh hoa đầu nhọn, trên cánh hoa có hoa văn màu bạc, dưới ánh sáng âm u lại phát ra màu sắc rực rỡ.
Rực rỡ lưu quang. Trong đầu ta nảy ra từ này, liền giơ hoa đi khoe với cha ta. Cha ta thấy lạ không lạ, bảo ta tìm cái bình để dưỡng hoa. Ta thấy bình mai của ông rất đẹp, liền ném cành mai của ông đi, cắm hoa của ta vào đó. Cha ta bưng bát cơm trông thấy, nhất thời không biết nên đi nhặt cành mai trước hay là đặt bát cơm xuống rồi đánh ta một trận trước.
Lúc ăn cơm, bọn họ biết không thể giấu ta được, liền ngồi bên bát măng đông xào thịt mà kể chuyện của ta.
Mười lăm năm trước, bọn họ nhặt được ta ở rừng tháp đá. Trong tã bọc ta không có một lời nhắn nào, không có tín vật chứng cứ. Trong tay ta nắm chặt một cành hoa xanh bạc, cười với bọn họ. Đóa hoa đó sau này không thấy nữa, cha ta và mẹ ta đùn đẩy cho nhau hồi lâu cũng không nói ra được nguyên do. Ta gõ xuống bàn hỏi: "Sau đó thì sao?"
"Sau đó? Sau đó chúng ta liền có con gái rồi mà!" Cha ta trợn mắt nói.
"Hôm nay ta cập kê, các người cả ngày đều không thích hợp."
Mẹ ta nhìn cha ta một cái, thở dài nói: "Trên đường bế con về gặp một đạo sĩ, hắn nói duyên phận của chúng ta, cũng chỉ mười lăm năm."
"Mười lăm năm sau thì sao?" Ta hỏi.
Cha ta vội vàng nói: "Cái đó hắn không nói."
Ta hừ một tiếng, nói: "Không nói lời tốt, đúng không?"
"Cũng... không phải, chỉ nói cát hung khó đoán." Mẹ ta cười gắp cho ta một miếng thức ăn, cười nói: "Lời đạo sĩ, há có thể tin?"
Ta cúi đầu đưa thức ăn vào miệng, thầm nghĩ: Không tin mà mặt các người sụp đổ cả nửa ngày!
Biết rõ có hỏi cũng không hỏi được gì, cũng không tin lời ma quỷ đoán mệnh khám trời của đạo sĩ, ta ăn cơm yên ổn, ôm quần áo bẩn đi giặt. Cúi đầu phát hiện trâm gỗ mẹ ta cho ta không thấy nữa. Ta nghĩ tới nghĩ lui, cảm thấy tám phần là rơi ở chỗ tháp đá, quyết định đợi đến khi mặt trời giữa trưa ngày mai thì đi xem.
Đêm đó trải qua không được yên bình. Mới thắp đèn không lâu, không ít người trong thôn vây quanh nhà ta đi tới đi lui, dường như đang tìm thứ gì đó. Cha ta đi hỏi, những người này cũng không nói. Ta bám cửa sổ cắn hạt dưa, bị mẹ ta xách đi ôn bài. Ta nắm một nắm hạt dưa hỏi nàng không lo đám người này làm khó cha ta sao? Nàng buông ta ra, cũng bốc một nắm hạt dưa.
Cha ta người hiền lành miệng vụng về, mẹ con chúng ta đều có đồng cảm.
Chẳng bao lâu, Từ lão thái gia của thôn này chống gậy bước tới, sau lưng mấy tên người hầu còn khiêng một chiếc thái sư ỷ. Ta nói: "Ông già này nhất định không có chuyện tốt!" Mẹ ta đồng ý, hạ giọng nói: "Xem ông ta có thể nói ra lý lẽ vặn vẹo gì."
Từ lão thái gia làm ra vẻ, ngồi ở cổng sân nhà ta, ho hai ba lần mới mở miệng nói: "Lôi Tứ, con gái nhà ngươi, hôm nay có phải mang một chiếc đèn lồng về không?"
Cha ta trợn to mắt nói: "Con nhóc này trộm đèn lồng của lão thái gia? Ôi chao, việc này to chuyện rồi..."
Lão thái gia không vui ho một tiếng, nói: "Ngươi đừng giả ngốc, có người nhìn thấy, trước bữa tối, nó từ sau núi trở về, sau lưng theo một chiếc đèn lồng vàng sáng."
"Vậy, đèn lồng đâu?" Cha ta nhìn quanh bốn phía, ta suýt nữa muốn vỗ tay cho diễn xuất của cha ta.
Từ lão thái gia dùng gậy mạnh chống xuống đất, nói: "Lôi Lão Tứ, lời này phải hỏi ngươi mới đúng! Ngươi nuôi dưỡng yêu tà, làm chú hại chết Chu lão gia thôn bên cạnh, ngươi phải giao yêu tà đó ra, cho nhà Chu một lời giải thích!"
Ta đã xắn tay áo lên rồi, liền nghe cha ta nghiêm mặt nói: "Con gái nhỏ chỉ là bướng bỉnh, tuyệt đối không phải yêu tà. Cái chết của Chu lão gia cũng không có nửa phần quan hệ với nhà ta. Chẳng lẽ ta nuôi con gái, các thôn xung quanh liền không cho Diêm Vương thu người sao?"
Từ lão gia tức đến râu mép dựng lên, vung tay, hai tên lưu manh trong thôn đẩy đám người ra, chỉ vào cha ta nói: "Chúng ta nhìn thấy rõ ràng, con gái ngươi ở tháp đá sau núi, toàn thân phát ra ánh sáng xanh, còn, còn lơ lửng giữa không trung."
Cha ta không thở gấp, đáp: "Bệnh từ trong bụng mẹ mang ra, bao nhiêu năm nay không có tiền chữa thôi."
"Lôi Lão Tứ, năm đó ngươi lưu lạc đến đây, thôn này hảo tâm thu nhận vợ chồng các ngươi, chia cho ngươi ruộng đất, giúp ngươi xây nhà, mà nay ngươi lại nuôi dưỡng yêu tà, lấy oán trả ơn, ngươi có xứng với các bậc trưởng bối trong thôn không?" Từ lão thái gia chỉ vào cha ta quát hỏi. Ta trợn mắt, thầm nghĩ những lời này mỗi năm ta đều nghe được mười mấy lần, bọn họ chỉ ức hiếp cha ta thật thà, lừa ông để chiếm chút lợi.
Cha ta chắp tay cúi một cái nói: "Ơn đức Lôi mỗ không dám quên, nhưng đứa con này của ta, Lôi mỗ trong lòng có tính toán, dù có chút bướng bỉnh, cũng tuyệt đối không phải yêu tà."
Ông ngừng một chút lại nói: "Nếu người trong thôn thật sự không dung được nó, chúng ta cả nhà dọn đi là được. Ruộng đất nhà cửa chia cho hương lân. Dù thế nào, Lôi Tri Kỳ là con gái ta nuôi lớn, tuyệt đối không thể nghe theo sự sắp đặt của Từ lão gia."
"Chỉ sợ không do ngươi!" Từ lão thái gia ho một tiếng, người trong thôn chầm chậm vây lại. Ta sốt ruột, động thủ cha ta khẳng định không được, thêm ta nữa cũng không tốt lắm. Ta nhổ hạt dưa đi, chợt nhớ ra một ý hay vô cùng, liền đẩy cửa sổ nhảy ra.
Người trong thôn thấy dưới cửa sổ lăn ra một bóng người đều sợ giật mình, dồn dập lùi lại hai bước. Ta lăn đến trước mặt Từ lão thái gia, giọng thô lỗ nói: "Lão thái gia, ngươi có từng nghĩ, vạn nhất ta không phải yêu tà, mà là thượng tiên đến độ kiếp thì sao? Hôm nay ta ở sau núi hiển hóa chân thân, luyện được tiên hoa thụy thảo, ngươi nghe được chút phong thanh liền chạy đến làm khó ta — thôn bên cạnh chết người, ngươi liền đến bắt yêu, cũng không quản có phải mạo phạm tiên gia hay không, mang đến vô cùng tai họa cho thôn. Nhà Chu hứa cho ngươi bao nhiêu lợi ích, mà ngươi vội vã như vậy thay người chịu sét đánh?"
"Ngươi ngươi ngươi, ăn nói bừa bãi!" Hắn trợn đỏ mắt, người trong thôn lại bắt đầu xì xào bàn tán.
Đúng lúc này, chiếc đèn lồng vàng sáng kia bỗng nhiên sáng lên sau lưng mọi người, trong những ngọn đuốc kêu lép bép hiện ra thân hình cao lớn như núi. Mặt mày hắn không rõ, thân thể hơi nghiêng về trước, hạ giọng nói: "Nàng nói không sai, ta là người bảo hộ của nàng, thời gian của nàng đã đến."
Ghế của Từ lão thái gia đều lật nhào, mọi người hô hoán "yêu quái", liền kinh hoàng bỏ chạy. Ta ngây người một chút, vội vàng bảo cha ta lấy hoa trong bình mai ra, hô: "Ta có phải thần tiên hay không, hôm nay cho các ngươi mở mắt!" Mọi người chưa chạy xa, thấy con quái vật như núi kia không có hành động gì, lại chầm chậm tụ lại. Đóa hoa này cũng không biết có phải được bình mai tôn lên hay không, khẽ đung đưa trong gió, lại thật sự mượn oai hùm mà hiện ra vài phần phong thái tiên phong đạo cốt. Ta giơ bình hoa ngẩng đầu, đi hai vòng trong sân, trong lòng biết cái này chỉ lừa được nhất thời, đợi bọn họ hoàn hồn lại, vẫn phải đến tìm phiền phức, bèn thương lượng với Từ lão gia nói: "Ta có một chủ ý, ngươi bảo người đưa ta đến Đại Quán ở kinh thành, để vị đạo trưởng đức cao vọng trọng kia đến xem ta có phải yêu tà hay không. Nếu ta là yêu tà, pháp lực hắn cao thâm, cũng trấn được ta, dù sao cũng tốt hơn ngươi ở đây gọi những người này chặn ta. Những bá bá thúc thúc này ngày thường ta cũng cất tiếng gọi, bọn họ cũng đều nhìn ta lớn lên, chẳng lẽ thật sự có thể động sát tâm, thấy máu tanh sao?"
Dân làng vốn nhát gan sợ chuyện, không đợi Từ lão thái gia lên tiếng, đều dồn dập phụ họa. Cha ta ở sau lưng ta xoay vòng vòng, nhưng cũng nghĩ không ra cách nói nào hay hơn. Dân làng tản đi, chiếc đèn lồng tròn cũng chẳng biết từ lúc nào đã biến mất, cha ta ngồi trong sân, cúi đầu nói: "Bọn hắn nói ngươi sinh ra đã biết mọi thứ, ta vẫn luôn cho rằng ngươi chỉ là tính tình có chút ngang bướng, thích nói bừa nói bậy. Nhưng chuyện hôm nay, ta đúng là không thể không tin."
Ta ngồi xổm trước mặt ông, nắm tay ông, hỏi: "Vậy ta còn là con gái của ngươi không?"
"Đương nhiên là."
"Vậy ngươi có hối hận vì đã nhặt ta về, nuôi ta không?"
"Không hối hận."
"Vậy thì ngươi cứ đợi ta trở về." Ta vuốt những vết chai trên tay ông, khẽ nói, "Đợi ta về sẽ trồng đầy sân cây mai cho ngươi, ủ thứ Bách Hoa nhưỡng thượng hạng, đóng cho ngươi một cái bàn sách to hơn, để ngươi bày một bộ bàn cờ tuyết ngọc sơn đen." Ta ngừng một chút, nói, "Đợi ta nuôi ngươi."
Cha ta thở dài, xoa đầu ta, quay đầu nhìn mẹ ta, than: "Thu dọn một chút, chúng ta nhân đêm rời khỏi đây."
"Đi đâu?" Mẹ ta xoay xoay mắt, có chút do dự.
"Thiên hạ rộng lớn, dù sao cũng có chỗ dung thân." Ông đứng dậy, ôm ta một cái, nói, "Ngươi còn nhỏ, đừng nghĩ đến chuyện đi trải qua gió mưa trên đời, cha mẹ còn đây, ngươi sẽ luôn có chỗ che mưa tránh gió."
Cha ta đã rất lâu rồi không ôm ta, ta có chút không quen. Thật ra, hai người bọn hắn hôm nay đều hơi lạ. Ta đi hai bước trong sân, dò hỏi: "Vậy ra, không phải ta, mà là các ngươi?"
Thân hình cha ta cứng đờ. Ta cảm thấy mình đoán trúng, vòng ra trước mặt ông ngẩng đầu hỏi: "Năm đó tên đạo sĩ kia ăn nói bừa bãi, các ngươi liền tin chắc không nghi ngờ. Bởi vì kẻ có vấn đề là các ngươi, không phải ta. Đúng không?"
Cha ta nghiêng nửa gương mặt, nói: "Ngươi còn nhỏ, đừng hỏi han những chuyện này."
Ta nhìn về phía mẹ ta, nàng cũng né tránh ta. Ta lập tức biết đây không phải chuyện nhỏ.
"Các ngươi... đã từng giết người?" Ta nhìn trái nhìn phải, đoán.
Cha ta hoảng hốt bịt miệng ta lại, liên thanh nói: "Nói bậy! Cái gì ngươi cũng dám nghĩ!" Ta xoay xoay tròng mắt, gỡ tay ông ra nói: "Vậy... hai người là bỏ trốn theo nhau à?" Lần này đến lượt mẹ ta đánh ta. Mẹ ta bình thường không dễ động thủ, mà đã động thủ thì ra tay rất ác, không như cha ta chỉ làm bộ làm tịch, ta vội vàng tránh ra thật xa. Cha ta cản nàng lại, khẽ nói: "Con bé này tâm tư linh hoạt, ngươi không nói với nó, không chừng sẽ gây ra chuyện gì."
Ông nhìn ra ngoài một cái, lại nói: "Lão thái gia cho người theo dõi chúng ta đấy, đừng gây động tĩnh quá lớn." Mẹ ta xưa nay nghe lời cha ta, trừng mắt nhìn ta một cái, gọi ta vào nhà, ta thành thật ôm bình mai đi vào nhà.
Cha ta đóng kín cửa nẻo, nghe ngóng một hồi rồi ngồi xuống trước bàn, ra hiệu bằng mắt với mẹ ta. Mẹ ta kiểm tra khắp cửa trước cửa sau, mắng vài tiếng, thấy bóng người lấm rấm tản đi, lại đóng kỹ cửa sổ, gật đầu với cha ta. Cha ta nhìn ta, đẩy cái sàng hạt dưa về phía ta, nói: "Ta kể cho ngươi một câu chuyện." Thật ra ông không có tài kể chuyện gì, câu chuyện nhạt như nước lã.
Mười bảy năm trước, kỳ thủ Lôi Tư Vân tuổi trẻ vào kinh, một trận thành danh, thanh danh không ai sánh bằng. Thời bấy giờ trong kinh chuộng cờ, Lôi Tư Vân được phong bác sĩ, kết giao lui tới với nhiều quyền quý, lại càng thân thiết với Hiền Vương Lý Miễn. Sau đó Lý Miễn vướng vào đảng tranh, bị kết tội mưu nghịch, bản thân thân đầu lìa khỏi cổ, lại còn liên lụy đến tộc thân. Lôi Tư Vân bị liên lụy, hoảng hốt bỏ trốn, từ đó ẩn danh giấu họ, không dám cầm quân cờ.
Ta nhìn về phía bàn sách của cha ta, trên bàn bày mấy quyển kinh thư, rách nát tả tơi, cũng chẳng thấy ông giở ra xem. Một góc để trống, quanh năm có mấy vệt nước, cha ta thường nhìn những vệt nước đó mà xuất thần. Nhưng khi có người lại gần, ông liền vội vàng lau đi vệt nước.
Ta nói: "Ta nghe tiên sinh ở kỳ quán nói về ngươi, khen không ngớt lời, lại tiếc nuối thở dài." Về việc mình dùng được hai câu thành ngữ, ta cảm thấy rất đắc ý.
Cha ta lắc đầu nói: "Ta với đạo cờ có chấp niệm, với bụi trần có hối hận. Năm đó sư phụ khuyên ta đừng vào kinh, ta không nghe, thiếu niên khí phách, không biết tiến lui. Bây giờ nghĩ lại, hai năm phong quang ấy, chỉ đổi lấy bao nhiêu năm sợ hãi rụt rè như chuột, mà với đạo cờ cũng không có chút tiến bộ nào."
Ông nhìn ta, lại nhìn đóa hoa của ta, nói: "Vốn tưởng chỉ có duyên phận mười lăm năm, ta để ngươi tự do vô ưu, chỉ sợ ngày sau chuyện lộ ra, sẽ nợ ngươi nhiều lắm. Nhưng nếu ngươi tự có một phen nhân duyên, vậy chúng ta sẽ đi cùng ngươi, đường kinh thành xa xôi, núi sông dằng dặc, sao có thể để ngươi lên đường một mình. Dù sao trong làng cũng chỉ đi một hai người, giữa đường chúng ta tìm cơ hội trốn là được."
Ta nghĩ đến con quái vật như núi kia, nhìn chằm chằm ông hỏi: "Ngươi thật sự không sợ ta là yêu tà sao?"
Cha ta có bao giờ bị ta uy hiếp đâu, phản hỏi: "Ngươi cũng không sợ ta có án mưu nghịch trong người sao?"
Ta nhổ ra một nắm vỏ hạt dưa, hừ nói: "Ta sợ gì chứ?"
Cha ta xoa đầu ta, cười nói: "Ta sợ gì chứ?"
Bọn hắn thu dọn đồ đạc cực nhanh, đồ đạc cũng ít đến đáng thương, ta gần như nghi ngờ bọn hắn lúc nào cũng chuẩn bị bỏ trốn. Ta mở cái rương nhỏ của mình nhìn một cái, thấy cũng không có gì để mang, chợt nhớ ra cây trâm vẫn còn đánh rơi ở sau núi. Ta sợ ngày mai không có cơ hội đi tìm, trong lòng quyết tâm, định lén chạy ra sau núi tìm thử. Không ngờ vừa xách đèn lồng ra cửa, liền thấy ngoài sân lơ lửng một chiếc đèn lồng tròn màu vàng sáng.
Thấy ta, hắn còn quy củ chớp mắt một cái.
Nói theo lương tâm, chiếc đèn lồng tròn chưa từng làm chuyện gì hại ta. Ta bị làm ồn cả một đêm, vô cớ sinh ra vô vàn lòng không sợ hãi, liền xách chiếc đèn lồng giấy có ngọn nến lay lắt lại gần, cảm ơn hắn vừa nãy đã giúp ta gỡ vây.
Một bàn tay to đầy lông xuất hiện giữa hư không, cẩn thận đặt xuống trước mặt ta một thứ. Đối với bàn tay của hắn mà nói, thứ đó thật sự quá nhỏ bé, nhưng hắn lại vô cùng trân trọng, đến mức động tác trông rất buồn cười. Ta xách đèn lồng nhìn kỹ, đúng là cây trâm mai ta đánh rơi. Ta có chút ngượng ngùng, cảm ơn hắn, nhét cây trâm vào trong ngực áo. Thấy hắn không có ý muốn đi, ta nhớ đến lễ nghi giao tiếp cơ bản cha ta dạy, bèn hắng giọng, hỏi: "Ta tên Lôi Tri Kỳ, ngươi tên gì?"
"Khôi." Hắn phát ra âm thanh trầm thấp.
Ta vỗ vỗ trên bàn tay đầy lông của hắn, nói: "Ngươi là yêu quái trên núi à?"
Hắn do dự một chút, đáp: "Không phải."
"Vậy ngươi là gì?"
"Khôi." Hắn vụng về đáp.
Ta thở dài một hơi thật sâu, nói: "Ngươi cứ đi theo ta mãi, có chuyện gì sao?"
"Thời gian đến rồi."
Lời này ta đã nghe mấy lần rồi, đang muốn hỏi cho rõ ràng, lại đột nhiên phát hiện, ta hình như không cần hỏi nữa.
Sau núi bùng lên lửa rừng, ngọn lửa xanh phóng thẳng trời, giống y hệt ánh sáng xanh đang tỏa ra trên người ta. Phía sau, cha ta loạng choạng chạy ra khỏi nhà, trong ngực ôm bảo bối bình mai của ông. Trong bình mai, đóa hoa xanh bạc kia đang nở rộ, theo những điểm sáng xanh nhạt tản ra từ nhụy hoa, đóa hoa nhanh chóng biến mất.
Ta trơ mắt nhìn những điểm sáng xanh nhạt kia bay vào thân thể ta rồi biến mất không thấy. Ta ngẩn ngơ nhìn cha ta, cha ta cũng trợn mắt há hốc mồm nhìn ta. Nhưng ta nhanh chóng nhận ra, ông không lao tới hỏi ta có khó chịu gì không, thì chỉ có một khả năng — ông đã từng thấy. Cành hoa lúc bọn hắn nhặt được ta chắc hẳn cũng đã biến mất như vậy. Ta chưa kịp phàn nàn với ông, Khôi đã nhẹ nhàng nắm lấy ta, lao về phía sau núi. Ta ở trong lòng bàn tay hắn quay đầu nhìn lại, phía sau ta có một luồng khói bụi xanh nhạt bám sát theo. Gió đêm phần phật, luồng khói bụi ấy ngưng tụ không tan, lấp lánh phát sáng. Xuyên qua làn khói bụi, trên mặt đất đen kịt có ngôi làng lấp ló ánh lửa như sao, dân làng đốt đuốc chạy tới chạy lui, âm thanh mơ hồ truyền đến, ta nghe không rõ, chỉ cảm thấy những điểm sáng lấp lánh kia như ngọn nến chao đảo trong gió, gió thổi một cái là tắt.
Kỳ lạ là, ta vẫn không biết "thời gian đến rồi" mà Khôi nói là có ý gì, ta thậm chí không biết hắn là quái vật gì, nhưng trong lòng ta lại trở nên vô cùng bình thản, ta nhớ đến lời cô gái ở kỳ quán kia, dù thế nào cũng là mệnh, đều phải tự mình gánh.
Dáng vẻ của ngọn núi sau gần như không thể nhận ra được nữa. Mặt đất bị hất tung từ bên dưới lên, cây cối nghiêng ngả đông tây, lẫn với đá và đất không ngừng lăn xuống chân núi, nhưng tháp đá và kinh tràng lại vẫn nguyên vẹn, chỉ có điều bọn chúng đều đứng xiêu vẹo, vô cùng ngay ngắn, cũng vô cùng quỷ dị.
Kinh tràng đã dịch chuyển vị trí, vị trí vốn có lộ ra một cái động lớn tròn trịa, lộ ra chút ánh sáng u ám, Khôi dẫn ta nhảy thẳng vào trong đó, chúng ta không ngừng rơi xuống, rơi vào bóng tối vô biên, lại đi qua tòa thành trì im lặng, cuối cùng rơi xuống một nền đài trơn nhẵn.
Nền đài vô cùng rộng lớn, khiến ta liên tưởng đến đàn tế dâng cúng sinh tế trong đại tế ở quê. Phi, thật xúi quẩy. Ta vỗ vỗ bàn tay to của Khôi, ra hiệu để hắn thả ta xuống, hắn khum bàn tay cẩn thận đặt ta xuống — cho đến lúc này, ta mới nhìn rõ dáng vẻ của hắn.
Hắn còng lưng, vai rộng, cánh tay dài quá đầu gối, bàn tay khổng lồ, toàn thân bó chặt trong một thứ giống như áo giáp, phần lộ ra mọc đầy lông dày màu sẫm. Khuôn mặt rất rộng, trên đó có một con mắt tròn màu vàng sáng, đồng tử hơi ửng đỏ, thoạt nhìn dữ tợn vô cùng. Nhưng mũi hắn lại tròn lại đầy thịt, thêm một cái miệng rộng với khóe môi hướng lên, khiến sự dữ tợn ấy bỗng chốc trở nên buồn cười đáng yêu. Ta hỏi hắn vì sao bình thường không nhìn thấy dáng vẻ này, hắn lắp ba lắp bắp giải thích cái gì mà ngụy trang quang học với mô phỏng sinh vật, ta cũng nghe không hiểu, bèn vẫy tay, đi dạo một vòng xung quanh.
Xung quanh nền đài tràn ngập sương mù màu xanh xám, trong sương mù dường như có những công trình kiến trúc khổng lồ. Ta nhìn không ra đầu mối, bèn quay lại bên cạnh Khôi, hỏi: "Đây là đâu?"
"Bình Tinh Hiệu."
"Cái gì?"
Khôi há miệng thốt ra một tràng tên gọi, nào là liên tinh, nào là khoa khảo thuyền, ta bĩu môi, bảo Khôi giải thích đơn giản một chút, Khôi tỏ ra vô cùng khó xử. Ta cũng không làm khó hắn, bèn toan bước vào làn sương mù xám mịt kia xem cho rõ, Khôi đưa ngón tay ra chặn ta, nói: "Thời gian đến rồi."
Lời còn chưa dứt, ánh sáng chói mắt từ bốn phương tám hướng tràn ra, chiếu nền đài thành một mảng trắng sáng, ta không mở nổi mắt, Khôi đưa tay ra che ta trong lòng bàn tay. Ta nghe thấy một giọng nói: "Thời gian luân oa đã xuất hiện, bắt đầu lần khớp thứ bốn mươi." Vô số điểm sáng hơi xanh từ trong thân thể ta tràn ra, tản ra bốn phía, rồi nhanh chóng ngưng tụ lại, ngưng thành một vòng hào quang, vòng hào quang kêu ù ù, phía ngoài kéo dài ra những hoa văn đối xứng phức tạp kỳ dị, hoa văn không ngừng triển khai, trải thành một bức tường ánh sáng thông thiên triệt địa.
Ta lùi lại hai bước, vừa định phát ra tiếng kinh thán, thì nghe thấy có người nói: "Khớp bắt đầu", tiếp đó, ta nhìn thấy chính mình dịch chuyển bước chân, đang toan đưa tay thăm vào vòng hào quang kia.
Ta rợn tóc gáy.
Khoảnh khắc này, ta cuối cùng đã ý thức được, tiếng "khớp bắt đầu" kia là vang lên trong đầu ta.
Là giọng nói thỉnh thoảng vang lên trong đầu ta kia.
Thì ra nàng thật sự ở đó, nàng vẫn luôn ở đó.
Nàng hại ta bị vu là yêu tà, bị que tre nhỏ gõ vào lòng bàn tay, thế nhưng nàng chưa từng giúp ta biện giải, cũng chưa từng đưa cho ta ý kiến hay nào. Vậy bây giờ nàng dựa vào cái gì mà bắt ta nghe lời nàng!
Ta ra sức đè chặt cổ tay mình, quát: "Ngươi là ai, ngươi muốn làm gì?"
"Về nhà. Chúng ta đã đợi quá lâu rồi, tuyệt đối không thể bỏ lỡ luân oa lần này." Giọng nàng vẫn bình tĩnh, nhưng những điểm sáng hơi xanh kia bắt đầu tản mát, bay múa khắp nơi, bức tường hùng tráng cũng phát ra tiếng ù ù.
Ta gào lên: "Nhà ta ở ngay đây!"
Nàng nói: "Nơi này rất nhanh sẽ không còn nữa, năng lượng khi Bình Tinh Hiệu cất cánh sẽ phá hủy toàn bộ thân núi."
Ta nhớ đến ngọn núi không ngừng sụp đổ khi đến, trong lòng tin bảy tám phần, bèn hét lớn với Khôi: "Chuyện gì thế này! Nàng nói nơi này đều sẽ bị hủy diệt! Làm sao bây giờ?"
Khôi vụng về giơ hai tay lên, dùng những ngón tay thô to khoanh thành hai vòng, lúc tách lúc hợp nói: "Một luân oa cần kết nối với một luân oa khác mới có thể mở ra thông đạo dược chuyển, quay về điểm thời gian chính xác. Năng lượng hiện có của Bình Tinh Hiệu không đủ để mở ra một luân oa khác, chỉ có thể chờ nó xuất hiện. Thời gian chờ đợi như thế là cấp độ thiên văn, cho nên tuyệt đối không thể bỏ lỡ."
"Ta hỏi ngươi làm thế nào để ngăn chuyện này lại!" Ta gầm lên, "Ai là đồng bọn với các ngươi!"
Khôi rõ ràng chưa từng nghĩ đến vấn đề này, hắn hoảng hốt nói: "Chúng ta, ngươi và ta, là do bọn hắn tạo ra, chúng ta nhất định phải nghe lệnh của bọn hắn."
Những câu trước nghe không hiểu, câu này thì ta nghe hiểu rõ ràng, ta nhảy cẫng lên nói: "Nói bậy! Ta với bọn hắn chẳng có quan hệ gì cả!"
Khôi vội vàng nói: "Ngàn năm trước, Bình Tinh Hiệu hạ cánh khẩn cấp ở đây, nhưng hành tinh này năng lượng cằn cỗi, không cách nào đả thông thời gian luân oa. Thế là bọn hắn sao chép sinh vật trên hành tinh, dùng hình thái nhân loại đến các nơi thu thập năng lượng. Ngươi và ta đều là được tạo ra, ngươi thu thập năng lượng, bảo vệ luân oa tồn trữ khí, ta bảo vệ ngươi. Thân thể hỏng rồi, thì làm lại một cái, lại làm một cái."
Ta nhanh trí nắm bắt được trọng điểm, hét lên: "Ngươi bảo vệ ta, ngươi vừa mới nói đấy! Ngươi nói cho ta, làm thế nào mới không hủy đi thôn làng!"
Khôi gãi tai vò đầu, xem ra cũng không biết, trong lòng ta lạnh đi một nửa.
Giọng nói trong đầu đúng lúc vang lên, nàng nói: "Nếu ngươi chịu hy sinh bản thân, có lẽ sẽ có cách."
Ta do dự một chút, nàng giải thích: "Quan hệ giữa hai chúng ta giống như bình gốm và nước. Theo trình tự bình thường, giống như đổ nước ra khỏi bình gốm. Ta rời đi, mang năng lượng theo, ngươi vẫn có thể giữ lại ý thức tự ngã, sống như một nhân loại bình thường. Mà muốn bảo vệ mảnh đất này, thì cần đem nước trong bình gốm nén đến cực hạn trước, rồi trong khoảnh khắc bùng nổ. Chỉ cần tính toán kỹ ngưỡng năng lượng, để hạch tâm năng lượng cao mang theo luân oa hạt tử thiểm bạo, là có thể kéo toàn bộ Bình Tinh Hiệu trực tiếp vào thông đạo dược chuyển, khiến xung kích năng lượng cũng hoàn thành trong thông đạo. Nhưng bình gốm sẽ vỡ vụn."
Nàng ngừng lại một chút, rồi bổ sung: "Hơn nữa không thể bảo đảm thành công, năng lực vận toán của Bình Tinh Hiệu hiện giờ có hạn, cũng không có thời gian để tiến hành tính toán toàn diện và diễn dịch mô phỏng, năng lượng hiện có chỉ đủ miễn cưỡng hoàn thành một lần dược chuyển..."
Ta không nghe nàng lải nhải nữa, chạy đi xác nhận với Khôi chuyện chính mình được làm ra ở đây. Khôi cam đoan với ta, tế bào nguyên sinh của ta lấy từ nhân loại thuần tự nhiên, không giống hắn là thể hỗn hợp cơ giới và dã thú, ta với nhân loại bình thường chỉ khác nhau ở tử cung và tử cung mô phỏng, cho dù cộng thêm luân oa năng lượng tồn trữ khí và chip thuật toán nhân cách được cấy vào, về bản chất ta vẫn là một nhân loại.
Mặc dù hắn hết lần này đến lần khác cam đoan, nhưng ta vẫn dâng lên một cảm giác kỳ quái, dường như tháo bỏ được chút gánh nặng, đồng thời lại dâng lên những ý nghĩ trước nay chưa từng dám có — ta không cần phải trói buộc dưới quy tắc của nhân loại nữa, lo lắng nhân duyên tương lai, lo lắng thành kiến yêu tà, để ý ánh mắt và lời ra tiếng vào của người khác, đạo đức và luật pháp nhân gian không thể trói buộc ta được nữa — ta tự do, ta có thể làm chủ vận mệnh của mình, trở thành con người mà ta muốn trở thành, sống thành dáng vẻ mà ta muốn sống.
Khoảnh khắc này, ta đột nhiên nhớ đến ngôi nhà trồng nửa sân cây mai kia, những người ở đó giận ta, cười ta, răn dạy ta, cũng thật sự nhớ ta, yêu ta, vương vấn ta. Một lòng một dạ, không cầu gì khác. Ta vượt qua sông Ngân xa xôi, hết lần này đến lần khác trùng sinh trong thời gian, để đến làm con gái của bọn họ. Trên thế gian này e rằng không còn tìm được chuyện nào có lời hơn thế nữa.
Không kịp hoan hô vì tự do nữa rồi, nếu ta không làm gì cả, bọn họ sẽ thất vọng.
Ta nghiến răng, bước về phía vòng hào quang màu xanh đang tản mát kia, đưa hai tay ra nói: "Đập vỡ bình đất rồi thì cứ đập luôn vậy."
Đối với tình huống hiện giờ, ta vô cùng không hiểu.
Ta tin chắc mình đã chết rồi, thế nhưng khi ta mở mắt ra lại thấy Khôi ngồi đối diện ta, trong lòng ôm một cái bình cao hơn một người.
Khi ta mừng rỡ cho rằng mình đã thoát được một kiếp, ta lại thấy quanh thân mình tản mát những điểm sáng màu xanh nhè nhẹ, hơn nữa chỉ có điểm sáng màu xanh.
Khôi đang luống cuống tay chân mân mê mấy "hạt đậu", ta không rõ đó là gì, nhưng rõ ràng Khôi đang cố gắng lắp chúng vào trong "cái bình". Tay hắn quá lớn, những "hạt đậu" kia trong tay hắn nhảy nhót qua lại, hắn cũng không bực, chỉ nhặt hạt đậu về, mặt mày ủ ê gom lại thành một đống.
Ta muốn hỏi hắn vài chuyện, nhưng ta rõ ràng đã không còn cơ quan phát ra âm thanh nữa, ta chợt nhận ra, tất cả những gì ta có thể "nhìn thấy", "nghe thấy", "cảm nhận được", đều là do những điểm sáng tản mát quanh thân ta phản hồi lại cho ta. Chúng bay xa bao nhiêu, cảm giác của ta cũng xa bấy nhiêu — ta dường như đã hiểu được cảm giác của cái "người" tồn tại trong cõi u minh giữa trời đất kia là như thế nào. Nhưng điều này rõ ràng không phải là thứ ta quan tâm nhất lúc này, ta nóng lòng muốn biết, thôn làng có giữ được hay không.
Những điểm sáng tản mát khiến ta "nhìn thấy" trước mắt là một mảnh hoang dã. Ta nghi ngờ mình đã làm hỏng việc, muốn hỏi Khôi, Khôi thấy ta cứ quanh quẩn bên cạnh hắn, vội vàng mở cái bình ra cho ta. Trong bình là một "ta", chỉ có điều trông như lớn tuổi hơn một chút, sau gáy nàng bị bật mở, bên trong lăn ra một vài mảnh vụn màu đen và màu xanh. Cảnh tượng này nếu để người trong thôn nhìn thấy, e rằng rất khó giải thích rõ đây không phải là Khôi đang đào não người để ăn. Khôi giải thích rằng: "Ta cướp được một thực thể thí nghiệm cơ hỗn mà bọn hắn không cần, các linh kiện chủ chốt của ngươi đều có thể khớp lên, chỉ có điều những linh kiện này quá nhỏ, ta lắp không vào được."
Ta không hề quan tâm đến những thứ này, ta chỉ quan tâm thôn làng còn hay không, nhưng Khôi một lòng một dạ chỉ nhớ nhung sửa cho xong cái "ta" trong bình. Ngay khi ta đang sốt ruột như lửa đốt, ta "nghe" thấy một giọng nói quen thuộc.
"À, có gì cần giúp đỡ không?"
Giá như ta có mắt, ta đã khóc òa lên rồi.
Cha ta mặc một bộ đồ trắng, xách một bó lớn tiền giấy nguyên bảo, vô cùng lễ phép đứng ở một nơi không xa. Sau đó, ông lại nhẹ nhàng giải thích: "Hôm nay là đầu thất, ta tới đây nhìn một chút."
Khôi có lẽ chưa từng nói chuyện với ai ngoài ta, ấp a ấp úng hồi lâu, nói: "Lắp, lắp linh kiện lên."
Cha ta đặt vàng mã xuống rồi bước tới, nhìn thấy dáng vẻ thảm hại kia, cũng không nói gì nhiều, chỉ cảm thán: "Ngươi cũng có lòng thật, làm một người giấy là được rồi, vậy mà lại làm ra một pho tượng tinh xảo đến thế."
Dưới sự chỉ huy luống cuống của Khôi, cha ta không hề hay biết gì mà đưa đôi bàn tay khéo léo kia ra, theo thứ tự nhét đống mảnh vụn nhỏ kia vào trong não của cái "ta" trong bình. Ta còn chưa kịp kinh ngạc, chỉ thấy những điểm sáng nhanh chóng tụ lại về phía cái bình, ta chỉ cảm thấy trước mắt hoa lên, không còn cảm giác được gì nữa.
Bên tai dường như có ngàn vạn con ong rừng đang vo ve, có một dòng nhiệt lưu cuồn cuộn trong não, ý thức bèn dần dần trở nên rõ ràng trong mớ hỗn độn ấy. Ta lờ mờ nghe thấy cha ta cùng Khôi khiêm tốn thảo luận: "Thuật pháp của ngươi quả thực rất cao minh, đây có phải là thuật khôi lỗi truyền từ nước ngoài không? Thật sự có thể gọi hồn phách người chết trở về, khiến người ta sống lại sao?"
Khôi hạ giọng hỏi: "Sao ngươi không sợ?"
Ta đoán ý của Khôi là "sao ngươi không sợ ta", nhưng cha ta rõ ràng đã hiểu sai ý, đáp: "Con gái ta mà, sao lại hại ta được?" Câu nói ấy khiến ta nghe xong cũng ngại ngùng không dám đột nhiên ngồi dậy dọa ông một phen. Nhưng Khôi tinh mắt, kêu lên: "Tỉnh rồi!" Ta đành phải chậm chạp ngồi dậy, khàn giọng gọi một tiếng cha.
Cha ta vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, cẩn thận bước tới sờ mặt ta, nói: "Tuổi tác trông như lớn hơn một chút, nhưng bản lĩnh của Khôi tiên sinh thật không thể xem thường." Ta chép chép miệng, trong lòng nghĩ vẫn là đừng nói với cha ta chuyện ta thật ra "không phải người". Thế là ta nắm lấy tay ông hỏi: "Mẹ ta đâu?"
"Ngươi không trở về, nàng khóc mấy ngày liền, bệnh đến mức thực sự rất nặng, ta sợ nàng lại nhiễm phong hàn, nên tự mình tới." Cha ta cũng nắm chặt tay ta nói, "Biết trước có kỳ ngộ này, nhất định sẽ bảo nàng cùng đến."
Sau khi cha con ta thổn thức một phen, ta hỏi tình hình thôn làng thế nào. Cha ta kể sơ qua. Đêm hôm ấy, người trong thôn thấy lửa núi bốc cao ngút trời, lại thấy ta bị Khôi mang đi, không ai là không kinh hãi vô cùng. Từ lão thái gia kêu lên "Đại Khôi Dị Tai", gọi người trong thôn đi lánh nạn. Cha ta muốn đuổi theo ta, bị người ta dùng tay chân túm lại kéo về. Mọi người ở khoảng đất trống phía trước núi chờ đến nửa đêm, chợt thấy một đoàn lam quang khổng lồ nổ tung giữa không trung, mãi không tan, xoay chuyển như cái hang. Một tòa cự thành từ trong núi lao ra, chìm vào lam quang, biến mất không thấy nữa. Sau đó mưa gió nổi lên dữ dội, sấm chớp giao hòa, đợi khi định thần nhìn lại, cả ngọn núi đã không còn nữa. Trời sáng quay về, thấy trong thôn chỉ rơi xuống vài tảng đá, hư mấy gian nhà, đập bị thương mấy con trâu, mọi người đều vỗ trán mừng rỡ. Ta thở phào một hơi, cũng kể lể lại một cách đại khái những gì mình thấy nghe, cha ta cũng không mấy quan tâm, chỉ hỏi ta có thể về nhà không.
Ta sững người.
Người trong thôn đang chờ bắt lấy chứng cứ thực tế ta là yêu tà. Hiện giờ đều cho rằng ta đã chết, đột nhiên sống trở về, ngoại mạo cũng khác trước, quả thực là tự dâng điểm nhược cho người ta nắm. Loại lời như thượng tiên độ kiếp, chắc chắn không lừa nổi.
Ta nắm lấy tay ông nói: "Cha, sao ngươi không sợ ta? Thân thể ta vỡ thành ngàn vạn mảnh, ghép cũng ghép không lại được, vậy mà ta còn có thể ở đây nói chuyện với ngươi, ngươi thật sự không cảm thấy ta là yêu tà sao? Ta khiến nơi này một đêm biến mất cả ngọn núi, suýt nữa liên lụy đến nỗi sinh linh đồ thán, ngươi thật sự không cảm thấy số mệnh ta mang theo ác sát, sớm muộn gì cũng họa đến thân nhân sao? Ta dù sao cũng là ngươi nhặt về nuôi, sao ngươi còn có thể nhận ta?"
Cha ta vỗ vỗ tay ta nói: "Nhà chúng ta sống rất chắt chiu, nhặt về nuôi suốt mười lăm năm, sao có thể vô cớ nói không cần là không cần được?"
Nếu là ngày thường, có lẽ ta đã bị câu nói này dỗ dành mà quay về rồi, nhưng lúc này, ta đang bị bọc trong cỗ thân xác lạnh giá này, trong lòng tự bảo không thể nghe lời ông. Ta nhìn Khôi đang ngoan ngoãn ngồi bên cạnh, ý nghĩ này càng thêm kiên định — ta thật sự không chút do dự quay về, vậy hắn phải làm sao? Cha ta thấy ta nhìn về phía Khôi, trong lòng hiểu ra vài phần, bèn nói: "Nếu ngươi có điều lo lắng, thì trước tiên đừng trở về. Qua vài ngày nữa, mẹ ngươi khỏe hơn một chút, chúng ta sẽ đến thăm ngươi."
Ta gật gật đầu, cha ta lại hỏi ta có cần chút quần áo lương thực không, ở chỗ nào, ta nhìn Khôi, cảm thấy chúng ta hiện giờ đều không nằm trong ngũ hành, có thể không cần bận tâm đến những chuyện này.
Sau khi cha ta đi, ta hỏi Khôi chuyện về thân thể này, hắn cũng nói không rõ. Chỉ là tự bản thân ta thật sự nhận ra, thân thể này không phải là thân thể con người, xương cốt truyền đến cảm giác cứng rắn lại lạnh giá, lồng ngực phát ra tiếng vang hỗn độn lại trống rỗng, chất lỏng chảy trong cơ thể không thể mang lại bất kỳ độ ấm nào, ta giống như một cỗ thi thể vẫn còn có thể suy nghĩ, vụng về ôm ấp những ảo tưởng không thực tế.
Ta vô cùng cảm thương, hỏi Khôi rốt cuộc ta là cái gì? Hắn vô cùng nghiêm túc trả lời ta: là một điểm đánh dấu thời gian luân oa biết đi. Nếu không phải thân thể này không thích ứng, ta đã nhảy dựng lên đánh hắn rồi. Khôi giải thích rằng, thời gian luân oa để lại điểm đánh dấu là chuyện bình thường, chỉ có điều hắn đã từ thân thể ban đầu của ta rút ra bộ lưu trữ và chip thuật toán nhân cách của thời gian luân oa. Ta có thể giữ lại ý thức của bản thân là nhờ chip, nguồn động lực của ta là luân oa hạt tử, cần phải do bộ lưu trữ tiến hành chuyển hóa. Khôi đề nghị ta ở lại đây một thời gian, điểm neo của thông đạo dược chuyển để lại luân oa hạt tử có nồng độ cực cao, tốt nhất nên lưu trữ nhiều một chút, bởi vì trên Lam Tinh thứ này thực sự ít ỏi đến đáng thương. Ta vẫn không hiểu lắm lời hắn nói, nhưng ở lại một thời gian thì ta tán thành.
Cha mẹ lén lút đến vài lần, ta cũng có xuống núi, nhân lúc ban đêm trở về nhà. Thật kỳ lạ, rõ ràng biết mình đã không còn là người, vậy mà vẫn thuần thục làm con gái của bọn họ, dường như bản thân vẫn là cô gái mười lăm tuổi chưa từng trải sự đời, nghịch ngợm không chịu nổi, khiến cha già sớm sinh tóc bạc.
Ta rất lưu luyến cái nhà này, vì thế đối với chuyện ly biệt, ta luôn không dám nghĩ nhiều.
Nửa tháng sau, cha ta lên núi tìm ta. Ở bản châu có một vị hầu gia được phong đất mấy ngày trước đã qua đời, có người nói Thất Mai Sơn từng có hiện tượng Đại Khôi Dị Tai, người của phủ hầu muốn đến tế bái. Ngày hôm ấy người trong thôn thấy ta bị Khôi bắt đi, lời đồn đại nổi lên khắp nơi, thế là có nha dịch đến nhà ta hỏi thăm. Cha ta lo rằng trong phủ hầu có người nhận ra ông, bèn định cùng mẹ ta rời đi, hỏi ta có đi cùng bọn họ không. Ta hỏi ông đi đâu, ông nói đi Dương Châu, năm xưa có một vị hiệp khách cứu ông, nhiều năm không gặp, muốn đến bái tạ đối phương. Dương Châu phồn hoa giàu có, ta không thể mang Khôi đến đó ở lâu dài. Ta gãi đầu, chợt kinh thán vận mệnh, nó luôn đẩy con người vào những cảnh ngộ không thể biết trước, buộc người ta phải đưa ra lựa chọn.
Ta hỏi cha ta: "Nếu ta không đi theo các ngươi, các ngươi có thất vọng không?"
Cha ta là người thông minh, nhìn ra tâm tư của ta, bèn an ủi ta rằng: "Chúng ta thất vọng hay không không quan trọng, ngươi có hối hận hay không mới quan trọng. Con cái lớn rồi thì rồi cũng phải rời nhà, nếu không có chuyện lần này, e rằng đã phải tính chuyện tìm cho ngươi một nhà chồng rồi."
Ta cắn môi, khóc lắc đầu. Hắn thở dài, nhìn Khôi, đặt tay lên đôi bàn tay đầy lông lá ấy, nói: "Ngươi nhất định phải chăm sóc nàng cho tốt."
Khôi gật đầu, nói: "Ta sẽ mãi mãi, mãi mãi ở bên nàng."
Chúng ta lưu luyến chia tay. Ta nghĩ, ta vẫn phải làm điều gì đó cho bọn hắn.
Tiễn cha mẹ đi rồi, ta cùng Khôi một đường tránh người, lẩn vào núi sâu. Trong núi không biết năm tháng, ta dần quen với việc dùng thân xác này cùng những điểm sáng kia cùng tồn tại.
Nhàn rỗi không có việc gì, ta mài đẽo một bộ bàn cờ, trong từng tiếng quân cờ rơi, ta mơ hồ thấy được một đường nét. Khôi nói đó là thời gian luân vực đang hình thành, cần rất nhiều luân vực mới có thể hình thành luân oa. Hắn thử lấy ra một tấm lưới giảng giải cho ta, ta không muốn nghe, chỉ hỏi thẳng thứ này có tác dụng gì, hắn nghĩ nghĩ rồi nói: "Có lẽ có thể ở thời gian luân tự mà tác động đến quá khứ và tương lai của một người nào đó."
Ta động lòng rồi.
Luyện tập thật dài lâu lại khô khan nhàm chán, Từ lão thái gia bị ta hành hạ đến sống không bằng chết, không biết bao nhiêu lần, về sau ta không đành lòng, đổi thành hai tên lưu manh trong thôn.
Ngày hôm ấy, những điểm sáng màu xanh lam trải khắp bàn cờ, ta hít sâu một hơi, nhẹ nhàng đẩy quân cờ.
Lôi Tư Vân năm ấy tuổi trẻ từ biệt thầy, một đường vào kinh. Giữa đường tại quán trà cùng người ta đánh cờ, liên tiếp hòa hai ván. Hắn khí thịnh, hất tung chiếc đấu lạp của đối phương, dưới đấu lạp là một gương mặt khẽ giận, diễm lệ như tuyết mai.
Giữa đường gặp nhau, vừa nhìn đã say đắm.
Hắn cùng nàng ôm bàn cờ vào kinh, một trận thành danh. Từ đó ra vào nhà sâu, giao du với quyền quý. Về sau, nàng nói muốn đi hóng gió Thái Hồ. Hắn bèn cùng nàng rời khỏi kinh thành, lên thuyền. Vài ngày sau, Hiền Vương Lý Miễn trong kinh đi dạo ngoại ô cưỡi ngựa ngã gãy chân, từ đó nằm liệt giường bệnh, thoát khỏi sự liên lụy của đảng tranh.
Ta đẩy quân cờ trước mắt, trong lòng nghĩ, ta chỉ là ném một hòn đá dưới vó ngựa của Lý Miễn, mà vận mệnh con người đã xảy ra biến chuyển to lớn.
Đôi phu phụ này chưa từng đến Thất Mai Sơn, chưa từng nhặt được một bé gái trên núi, chưa từng gặp vị đạo sĩ mà lời nói ứng nghiệm như sấm truyền. Bọn họ ở bên Thái Hồ gặp một thiếu niên đeo kiếm, đi theo hắn đến Dương Châu phồn hoa, bọn họ ăn bánh bao nhân gạch cua và món đậu khô trụng, trên cầu Sấu Tây Hồ ngắm mấy lần hoàng hôn, gặp hai người.
Cờ gặp đối thủ, rượu gặp tri kỷ.
Hắn ở bên Sấu Tây Hồ mua một căn nhà, trồng đầy vườn cây mai, dưới gốc cây chôn từng vò Bách Hoa nhưỡng. Thư phòng của hắn quanh năm mở cửa sổ, bên cửa sổ có một chiếc án lớn, chỗ dễ thấy trên án bày bộ bàn cờ đen tuyền tuyết ngọc, thường có cánh hoa rơi vào. Cha ta có khi sẽ nhìn chằm chằm góc bàn ngẩn người, thỉnh thoảng đưa tay lau một cái, như thể lau đi một vết nước.
Khôi không cho ta đến gần bọn hắn, nói ta vốn đã can thiệp vào thời gian luân tự của bọn hắn, lại không chừng mực mà đến gần, tất nhiên sẽ đối với bọn hắn sinh ra ảnh hưởng không thể đảo ngược. Ta đáp ứng hắn tận lực tiết chế, nhưng trong lòng lại không buông xuống được. Dù sao ta ở thế gian này cũng không còn người nào để nhớ nhung nữa.
Một ngày, ta lại tránh Khôi đến bên ngoài căn sân nhỏ ở Dương Châu. Giả vờ vô tình đi ngang qua cửa, liền thấy mẹ ta bưng một đĩa bánh hoa quế đứng ở cửa vẫy tay gọi ta. Ta ngẩn ra một lúc mới nhận ra nàng đang gọi ta. Nhích từng bước nhỏ lại gần, một tiếng "mẹ" trong bụng quanh co nghìn lần cũng không thốt ra được, đành khom gối nói một tiếng: "Phu nhân kính chào!"
Nàng cũng không tỏ ra xa lạ, nắm tay ta hỏi: "Những ngày gần đây luôn thấy ngươi ở gần đây, ngươi là cô nương nhà ai?"
Ta lắc đầu nói: "Nhà ta ở Thất Mai Sơn, ta là đến... thăm người thân."
Ta muốn giãy khỏi tay nàng, nhưng nàng không buông ra, ta bèn cũng lười biếng, trong lòng nghĩ, cứ như vậy cũng tốt, biết đâu ta chính là người mà bọn hắn đời đời kiếp kiếp quanh quẩn đều phải gặp nhau? Thế là thở nhẹ một hơi, nói: "Nghe nói phu tử đánh cờ rất giỏi, ta muốn đến thỉnh giáo đôi đường."
Mẹ ta nói: "Muốn đánh cờ thì ngươi cứ đến, chỉ là ta thấy, người thân của ngươi cũng chẳng mấy quan tâm ngươi, ngươi vào trước đi." Ta bị nàng không nói hai lời kéo vào cửa.
Trong sân đầy cây mai, trên chiếc bàn gỗ bên cạnh cây mai bày một bộ trà cụ màu thiên thanh. Cha ta đang bưng bàn cờ từ trong nhà đi ra, thấy mẹ ta kéo ta vào, vội vàng đặt bàn cờ xuống hỏi đầu đuôi ra sao.
"Cô nương này muốn đến đánh với ngươi một ván cờ." Mẹ ta nói, "Ngươi đi nhóm lửa trước đi, ta đi chải đầu cho nàng. Nghĩ tuổi này cũng đã qua cập kê rồi, sao có thể cả ngày đầu tóc rối bù như vậy?"
Cha ta đáp một tiếng, không lấy làm lạ vén tay áo lên đi ôm củi.
Tóc được búi lên, chồng bên mái, cài một cây trâm hoa mai nhụy nhỏ. Ta nhìn mình trong gương đồng, mơ hồ nhớ đến trận tuyết trong của Thất Mai Sơn năm ấy. Cho dù bọn hắn không nhớ ta, ta vẫn có thể làm con gái của bọn hắn sao?
Quân cờ gõ lên bàn cờ thanh thanh giòn giã, ta vốn học cờ không mấy dụng tâm, nhưng nay trong đầu chỉ còn một con chip ngày ngày ong ong, ngược lại cũng tính được mấy chục bước cờ. Cha ta kẹp quân đen do dự không quyết, gió hoa xào xạc, lác đác cánh hoa rơi trên bàn cờ, được hắn kiên nhẫn nhặt đi. Ta từng miếng từng miếng cắn bánh hoa quế, trong lòng nghĩ, thời gian này nếu dừng lại tại đây, ba người một nhà chúng ta trong căn sân nhỏ này nhàn nhã gõ quân cờ, chờ tuyết rơi hoa nở, chưa hẳn không phải là một sự an ổn vĩnh hằng. Cha ta hạ quân, có chút đắc ý hừ hai tiếng, ta cũng không chịu yếu thế, nhét bánh hoa quế mấy miếng vào miệng, lau tay lên vạt áo, nhón quân trắng lên định chặn đường lui của hắn, bỗng nghe một tiếng "Ơ?"
Ta ngước mắt, thấy cha ta nhìn về phía sau lưng ta, kinh ngạc nói: "Đom đóm xanh này, thật là ít thấy." Ta hoảng hốt quăng quân cờ xuống, chạy ra ngoài cửa, từ xa nghe mẹ ta nói: "Măng đông đều đã bóc xong rồi, sao lại đi rồi?" Ta khóc bịt tai lại, quay đầu chui vào một con hẻm.
Hẻm ngõ ở Dương Châu lại hẹp lại dài, quanh quanh co co không thấy điểm cuối, tường đá bị mặt trời phơi đến nóng bỏng, thô ráp cọ qua lòng bàn tay ta. Ta tìm một góc không người, thở cho bằng hơi, ngưng những hạt tử thành bông hoa xanh bạc, nắm một nắm trong tay, chạy về phía Bến đò Đông Quan.
Dưới ánh mặt trời, những hạt tử này hòa vào nước liền không còn dễ thấy như vậy. Trong lúc hoảng loạn, ta lại quên mất, Bến đò Đông Quan, người rất đông.
Lúc nhỏ, chuyện thích nhất không gì hơn là đi chợ phiên. Mỗi khi đến ngày sóc vọng, người mấy thôn lân cận liền đổ về khoảng đất trống phía tây Uyển Khê để đi chợ phiên. Mẹ ta ngắm rau quả cầm súc, ta thì dán mắt vào bánh chiên, tò he đường và khoai lang nướng. Khi đó ta luôn ngồi trên vai cha ta, trong tay nắm một nắm kẹo, vừa mút đầy miệng vị ngọt, vừa nhìn dòng người cuồn cuộn, bên tai là tiếng rao hàng trồi lên sụt xuống, trong gió phiêu đầy mùi bơ giòn và mật đường. Ta từng hỏi cha ta, vì sao không thể ngày nào cũng là chợ phiên? Cha ta lắc tay ta nói: "Bởi vì mọi người cần dùng nhiều thời gian hơn để sống cuộc sống thường ngày." Ta hỏi thế nào là cuộc sống thường ngày, hắn cười nói: "Chính là cuộc sống mà không thể ngày nào cũng ăn kẹo đến mức ăn hỏng cả răng." Những lời cha ta dỗ ta ta đều để ngoài tai, vẫn ngày ngày nhớ nhung ra chợ chơi, cho nên cũng chưa từng nghĩ tới, phải làm sao tránh khỏi dòng người chật kín cả con phố trước bến đò.
Đứng ngẩn ở đầu hẻm một lúc, có người mắt tinh nhìn thấy ta, tò mò tiến lại gần ta, ta kinh hãi quay người chui trở lại trong hẻm, có người đuổi theo ta một lát, liền mất hứng. Ta hoảng không chọn đường, không biết đã chạy về đâu, hồi lâu, ngẩng mắt lên, thấy cách đó không xa là một căn sân quen thuộc, trước cửa sân, ngồi người quen thuộc ấy.
"Trời sắp tối rồi, ngươi về ăn cơm đi!" Mẹ ta thò nửa người ra từ trong cửa, gọi hắn.
"Chờ thêm chút nữa, cờ còn chưa đánh xong mà." Cha ta vung vung tay áo, đứng dậy nói, "Thật là sơ suất, quên hỏi là cô nương nhà ai."
"Ngày mai ta cùng ngươi hỏi thăm khắp nơi." Mẹ ta lại gần kéo hắn, nói, "Không hiểu vì sao, ta nhìn nàng cũng thấy khá thân thiết."
Trong lòng ta khẽ động, nhìn quanh bốn phía, thấy hạt tử không biết từ khi nào đã không còn tràn ra nữa, bèn vứt bông hoa trong tay đi, ngượng ngùng bước tới, nói: "Phu tử, phu nhân, vừa rồi ta có việc đi gấp, thật là thất lễ, xin phu tử dạy ta đánh nốt ván cờ."
Cha ta vừa kinh vừa hỉ, kéo ta vào sân, liên thanh nói: "Ta vừa mới nghĩ ra một nước cờ hay……"
Mẹ ta nặng nề ho một tiếng, cha ta vội vàng đổi lời nói: "Ăn cơm trước!"
Măng đông hầm sườn, sườn mềm nhừ, thịt măng hút đầy nước dùng đậm đà tươi ngon, ta giơ bát xin thêm cơm hai lần.
Bên cây mai dựng hai chiếc đèn lồng, ta và cha ta ngươi tới ta lui đánh cờ, chẳng bao lâu, ta thua nửa tử. Cha ta cười ha hả, nói: "Đánh thêm một ván."
Ta biết trong lòng không thể nán lại lâu, đang muốn đứng dậy cáo từ, thì nghe ngoài sân truyền đến một trận ồn ào, một số người vây quanh cửa, bảy miệng tám lưỡi thảo luận vì sao những con đom đóm màu xanh lam đến gần đây lại biến mất. Cha ta theo tiếng bước ra hỏi thăm, ta đứng dưới gốc mai nhìn từ xa, phảng phất trông thấy đêm Thất Mai Sơn năm xưa.
Hạt tử ngưng tụ mà không tan, dưới màn đêm càng nhìn càng rõ ràng. Ta từng bị người ta trông thấy mặt ở bến đò, nghĩ đến e rằng không thể kết thúc yên ổn. Chỉ là nay, bọn hắn không còn lý do gì để che chở cho ta nữa.
Ta bước về phía cửa, mẹ ta nhanh tay nhanh mắt kéo ta lại, nói: "Ngươi đừng đi."
Dù chẳng biết gì cả, nàng vẫn muốn bảo vệ ta. Ta vỗ vỗ tay nàng nói: "Không sao, ta sẽ gọi phu tử trở về."
Mời cha mẹ đến ngồi ngay ngắn trên ghế ở chính đường, ta quỳ trước mặt bọn họ dập đầu một cái nói: "Ta tên là Lôi Tư Kỳ, tên do cha ta đặt. Được cha mẹ nuôi nấng mười lăm năm, ân tình sâu dày. Ta cùng hai vị vốn cũng có mối nhân duyên, đáng tiếc thiên đạo vô thường, duyên mỏng khó nối, chỉ mong hai vị phúc trạch dài lâu, mãi mãi không sợ hãi lo âu."
Cha mẹ ta hoảng hốt đứng dậy đỡ ta, ta lại cố chấp dập đầu một cái, nói: "Ta mang trong mình dị năng, người đời phần nhiều lấy làm lạ, chỉ mong hai vị đừng xem ta là yêu tà, sợ hãi sinh nghi."
Cha ta ngẩn người, chậm rãi nói: "Ngươi đánh cờ tuy sắc bén, nhưng quang minh lỗi lạc, chẳng hề có tâm kế, sao có thể là yêu tà gây họa cho thế gian?"
Ta cắn môi nói: "Đợi ta ra ngoài, hai vị tuyệt đối đừng lộ diện. Chuyện ta gây ra, ta tự mình giải quyết."
"Chuyện này……" hai người nhìn nhau, cha ta thở dài nói, "Ngươi tuổi còn nhỏ, đừng nghĩ một mình gánh lấy phong ba của thế gian……"
Ta lại dập đầu một cái, đứng dậy, bước về phía cửa, bọn họ do dự đi theo. Ta quay đầu lại, nhìn bọn họ thêm một lần nữa, mở cửa bước ra, trở tay đóng bọn họ lại phía sau.
Trong ngõ vẫn còn đứng không ít người, có người nghi hoặc nhìn ta, ta đi hai bước, để ngọn lửa đom đóm màu xanh bay vút lên không, trong tiếng kinh hô của mọi người, ta lớn tiếng bịa chuyện: "Đại Thần Thông Phúc Ngọc Quảng Đức Chân Quân đi ngang qua quý địa, không ngờ quấy nhiễu, chư tiên chớ trách!"
Một thanh âm thô dày lập tức hùa theo: "Đại Thần Thông Phúc Ngọc Quảng Đức Chân Quân đi ngang qua quý địa, không ngờ quấy nhiễu, chư tiên chớ trách!" Thanh âm ấy lặp lại hai lần, hồi âm không ngớt, trong tiếng quỳ lạy hô vang của mọi người, toàn thân ta quấn quanh ngọn lửa đom đóm màu lam, bị Khôi ẩn hình nắm trong lòng bàn tay, bay vút lên không, tựa như phi thăng.
Đáp xuống chỗ không người, Khôi đặt ta xuống, ta vẫn không nhịn được cười đến lăn lộn.
"Ngươi quá hồ đồ rồi." Khôi bất mãn nói.
"Trong sân có thêm một chiếc đèn lồng, ta liền biết ngươi đến rồi." Ta lau nước mắt nơi khóe mắt, cười nói, "Chuyện của ta, ta tự mình giải quyết. Mệnh của ta, ta tự mình quyết định. Ta đã phóng túng qua rồi, thì không oán không hối."
Khôi không nói gì, ta chợt nhận ra, nếu ta không còn nữa, Khôi sẽ chỉ còn lại một mình.
Thật ra ta không phải chưa từng nghĩ, thân thể này dù sao cũng là nhặt được, hỏng rồi cũng không xót, nhưng Khôi thì phải làm sao? Ngoài ta ra, trên đời này còn ai sẽ tin hắn vô hại, không phải là quái vật? Ta từng dò hỏi trong Luân Ngưỡng của thời gian, trong núi tuyết phương tây, trên hải đảo có truyền thuyết về tuyết quái, cự nhân một mắt, nói không chừng có thể tìm được tộc quần tiếp nhận Khôi. Nhưng chỉ vừa nghĩ như vậy, ta đã không vui rồi, không hiểu vì sao, chính là không vui, giống như cha ta thả con chim sẻ ta bắt được, trả lại cho ta quả mọng ta hái từ trên cây nhà hàng xóm. Loại cảm xúc này rất không lành mạnh, ta lý trí quyết định ngừng nghĩ tiếp.
Gió đêm phần phật, không trông thấy chút ánh đèn nào, mắt Khôi như một chiếc đèn lồng vàng, soi không rõ xung quanh, chỉ cao cao phiêu giữa không trung, chớp chớp nhấp nháy, giống hệt sơn tiêu quỷ mị. Ta rút cây trâm mai có nhụy hoa nhỏ từ trên đầu xuống, nhét vào trong ngực, thầm nghĩ, đã đến lúc cáo biệt nhân gian này rồi, thời gian còn lại, liền cùng Khôi tìm một chốn chôn xương thôi.
Đã hạ quyết tâm, ta liền nằm lì trong lòng bàn tay hắn, nói: "Chúng ta rời đi!"
"Đi đâu?"
"Đi về phía đông, cứ đi mãi."
Khôi rất nghe lời, nắm ta trong lòng bàn tay, đi về phía đông. Chúng ta đi qua thành trấn, tránh khỏi chỗ có người, xuyên qua núi đồng nội chưa nhiễm văn minh, vương đầy một thân cây cỏ xanh tươi. Cuối cùng có một ngày, Khôi dừng bước, hỏi: "Muốn ra biển không?" Ta trèo lên bả vai hắn, trước mắt là một mảnh xám xanh vô ngần, sóng cuộn như đống tuyết, nơi nước trời giao nhau, mây trôi như núi xanh.
Vốn cũng thuận theo sóng nước trôi dạt, bèn đi mua thuyền. Người thợ đóng thuyền già ở xưởng gõ tẩu thuốc hỏi ta có phải người Thất Mai Sơn không, nói mình thuở nhỏ rời quê, lâu không nghe tiếng quê hương, thật sự nhớ nhung bát măng đông hầm thịt của quê nhà. Chúng ta trò chuyện hồi lâu, khiến ta lại nảy sinh chút tâm tư hoảng hốt, ta rốt cuộc vẫn mang theo dấu vết đã đi qua nhân gian này, bất luận trong thời gian dài đằng đẵng phiêu bạt thế nào, quay đầu nhìn lại, vẫn có thể tìm thấy một tòa tiểu viện, cất giữ hết thảy hỉ nộ bi hoan.
Nhưng, Khôi thì sao?
Thuyền mua được rẻ, nhưng đều không biết lái thuyền, bèn thả cho trôi dạt tùy ý trên biển. Đêm không có ánh trăng, mặt biển đen kịt, những điểm sáng xanh u lam sẽ từ đáy biển nổi lên, tụ về bên cạnh ta. Chỉ lúc này, sắc mặt Khôi mới đỡ hơn chút. Thỉnh thoảng, cự thú biển cả bơi qua bên thuyền chúng ta, phát ra tiếng kêu chậm rãi, như tiếng vang ấm hậu của đại địa. Ta đứng bên thuyền lớn tiếng hô: "Ta muốn tìm chốn chôn xương——" Cự thú chìm vào sóng biển, sau đó vô số điểm sáng u lam bồng bềnh giữa làn sóng, thuyền theo những điểm sáng trôi về phía chân trời mênh mông.
Trong mưa gió, thuyền mắc cạn trên một hòn đảo. Trên đảo có thế núi liên miên, bên sườn đảo có sóng lớn ngất trời, ta vừa nhìn đã ưng ý, Khôi cũng thấy không tệ, bèn dựng chỗ ở trên đảo. Ta không ở được bao lâu, thân thể ngày ngày suy tàn, tan tành, rất nhanh chỉ còn lại bộ xương hoàn chỉnh. Khôi đặt hài cốt, bộ lưu trữ và chip vào trong đá, lại vác tảng đá lên đỉnh núi, trong những điểm sáng xanh lam tản mạn, ta học được cách cảm nhận từng nhịp thở của hòn đảo, điều khiển từng lần luân chuyển của mùa.
Khôi thường ngồi trên đỉnh núi, có khi cũng lẻ bước một mình bên vách đá, nếu trên biển có người gặp nạn, hắn liền giúp một tay. Có người bắt mấy con luân oa hạt tử trên đảo mang về, không biết sinh ra lời đồn gì, liền thỉnh thoảng có người đến đảo tìm tiên hỏi thuốc. Mang đi mấy hạt tử vốn cũng không sao, nhưng khi một đoàn thuyền hùng hậu mang theo hỏa khí đổ bộ lên đảo nhỏ, toan bắt Khôi đi, lần đầu tiên ta giận dữ tột độ, không chút do dự dấy lên cuồng phong kinh lôi, đuổi bọn chúng trở về biển.
Sau cơn mưa gió, Khôi sờ bàn tay bị thương ngồi bên tảng đá trên đỉnh núi, im lặng thật lâu. Những điểm sáng xanh lam rơi xuống trên người hắn, bị hắn phất tay xua tan. Khi mặt trời lặn xuống, ta để khắp đảo nở đầy hoa xanh bạc, hắn nhìn hoa rực rỡ tràn khắp núi đồng, bỗng nhiên nói: "Có phải ta không thể bảo vệ ngươi nữa rồi không?"
Hắn không gọi tên ta, ta cũng không thể đáp lại hắn.
Chúng ta im lặng với nhau, im lặng chưa từng dài lâu đến thế. Ta tìm kiếm trong ký ức, bỗng nhiên nghĩ đến, hắn hình như chưa từng gọi tên ta, bất luận là danh hiệu hắn cho ta trong chiếc phi thuyền kia hay cái tên nhân loại cha mẹ đặt. Có phải trong thế giới của hắn, từ đầu đến cuối chỉ có một mình ta, người hắn luôn trông nom, kêu gọi, nghe lời, muốn bảo vệ, cũng chỉ có một mình ta. Ta từng hỏi Khôi, sau khi thân thể này hỏng rồi, hắn có dự định gì? Hắn rất nghi hoặc, gãi đầu thấp giọng nói, ta sẽ mãi mãi ở bên ngươi. Không hiểu vì sao, ta có được một sự an tâm đương nhiên. Giống như ngay lúc này. Sông Ngân rực rỡ, sóng biển chầm chậm, hoa xanh bạc khẽ đung đưa, khoảnh khắc này dù là thiên trường địa cửu cũng rất tốt.
Đêm ấy, từ ngoài vì sao xa xăm truyền đến chút dao động, khiến ta giật mình tỉnh cảnh giác — có kẻ đang dò tìm dấu vết của thời gian luân oa. Nếu kẻ nào tìm được ta, sẽ khóa chặt hành tinh này. Hành tinh này đẹp lại yên tĩnh, chưa cần khách từ ngoài trời dòm ngó. Ta nhìn Khôi đang co lại thành một cục lông lớn, đưa ra một quyết định.
Khí ánh trăng nở rộ, trên biển rơi xuống một phiến tuyết. Khôi cô độc vươn chiếc lưỡi khổng lồ ra, cuốn phiến tuyết ấy vào miệng. Sau đó, trong tim hắn sinh ra một phiến băng, phiến băng ấy cực mỏng, cực sáng, long lanh trong suốt, như thể không chịu nổi chạm vào mà chầm chậm tràn ra vô tận sương ý, từng chút một thấm vào cốt nhục hắn. Đôi mắt tuôn trào nước mắt nóng hổi của hắn bị đông cứng, trái tim như trống sấm của hắn bị đông cứng, thân thể to lớn cứng như sắt của hắn cũng bị đông cứng, ngay cả những con sóng biển lớn gấp vô số lần thân thể hắn cũng chợt đông lại, không còn cuồn cuộn. Những điểm sáng xanh dừng lại giữa không trung, không còn tán loạn, bộ nhớ và chip của thời gian luân oa trong đá cũng không còn vận hành — ta phong đông tất cả, hy vọng nơi đây bị hoàn toàn bỏ qua.
Cuối cùng, một hạt sáng rơi lên người Khôi, trong lòng ta sinh ra một tia không nỡ. Nơi đây đã có một ngọn núi hoang tịch, lại có một vùng biển vĩnh cửu đóng băng, không còn một sinh linh nào sẽ bước vào đây nữa, cũng không biết phải qua bao lâu nữa, mới có một đôi tay ấm áp đến hà hơi mà đánh thức linh hồn hắn.
Nhưng ai bảo hắn nói, sẽ mãi mãi, mãi mãi ở bên ta?
