Nhất Phẩm Ngỗ Tác
Chương 22: Người dưới hoa dưới trăng

Trước ngôi mộ mới, Mộ Thanh không khóc, cũng không nói gì, chỉ quỳ ở đó, từ khi trời tối đến khi trời sáng, tựa như từ kiếp trước đến kiếp này.

Kiếp trước, nàng rất sớm đã không còn nhớ nổi dung mạo của cha mẹ. Họ đã rời khỏi nhân thế khi nàng còn quá nhỏ, tuổi thơ đối với nàng là cuộc sống nương nhờ dưới mái nhà người khác, là những bát cơm thừa canh cặn thường xuyên bưng trong tay. Nàng từ khi còn rất nhỏ đã biết cuộc đời mình chỉ còn lại bản thân, cho nên liều mạng đọc sách, liều mạng giành được cơ hội được bảo lãnh ra nước ngoài học tập, liều mạng giành được tiền đồ gấm vóc, nhưng rốt cuộc lại chôn vùi trong một vụ tai nạn xe.

Kiếp này, một luồng u hồn gửi vào nhà họ Mộ, từ đó ngày tháng thanh bần, nhưng chưa từng ăn một bữa cơm nguội. Vốn tưởng tình thân dày nặng, tình cha như núi, kiếp này rốt cuộc cũng có chỗ dựa, không ngờ bỗng chốc, nàng lại trở về một mình cô độc.

Có lẽ cái chết của cha vốn dĩ là lỗi của nàng.

Cha tuy lĩnh bổng lộc triều đình, nhưng thân mang tiện tịch, đám nha dịch trong nha môn đều xem thường ông, thường xuyên quát tháo sai khiến ông. Lúc đó thủ pháp khám nghiệm tử thi của cha cũng không cao minh, Đại Hưng vẫn còn luật cũ cho phép đồ tể, du thủ du thực khám nghiệm tử thi, người gia nhập nghề ngỗ tác rất ít, chẳng thể nói là chuyên nghiệp. Đa số ngỗ tác đều có một bộ phương pháp khám nghiệm tử thi riêng, có người chẳng hề tìm chứng xác thực, tồn tại không ít sai sót.

Phàm là án đại tích, không gì quan trọng hơn tình tiết ban đầu; tình tiết ban đầu không gì quan trọng hơn khám nghiệm. Khám nghiệm sai sót, có thể nghĩ đến sẽ hại bao nhiêu mạng người.

Không chỉ vậy, nguyên tắc xử án thời cổ là "tang trạng lộ diện, lý bất khả nghi", tức coi trọng "khẩu cung" của phạm nhân.

Khám nghiệm tử thi không hoàn thiện, phá án coi trọng khẩu cung, có thể nghĩ đến oan án lại có bao nhiêu.

Nàng kinh hãi trong lòng, bèn âm thầm ra sức, dẫn dắt uốn nắn, từng bước để cha khám nghiệm nổi danh trong hàng ngỗ tác Giang Nam. Từ khi cha có danh tiếng, các vụ án ở Cổ Thủy huyện từng vụ từng vụ đều phá được thật đẹp, tri huyện được thăng quan, tri huyện mới đến trông cậy vào cha để thăng quan, người trong nha môn lúc đó mới đổi một gương mặt tươi cười với cha.

Nàng tưởng đây là sự báo đáp của nàng đối với cha, không ngờ có một ngày, danh tiếng ấy lại lấy mạng ông...

Mộ Thanh quỳ trước mộ, gió núi làm lay động lá mới của cây già, rơi trên vai, khẽ run.

Ánh chiều tà đổi thành ánh trăng, ánh trăng đổi thành ánh sáng ban mai, người quỳ trước mộ trán đập xuống bùn mới, trong gió vang tiếng ù ù, cúi lạy lần thứ nhất, "Cha, con gái bất hiếu..."

"Kẻ thủ ác giết cha, con gái nhất định tra ra!" lại cúi lạy lần nữa.

"Đợi báo được thù, con gái nhất định trở về đưa quan quách của cha về Cổ Thủy huyện, hợp táng cùng mẹ." cúi lạy lần thứ ba.

Ba lạy xong, Mộ Thanh đứng dậy, ánh sáng ban mai rải trên vai, rơi một mảng ánh vàng.

Ngày này, Đại Hưng Nguyên Long năm thứ mười tám, ngày mùng bốn tháng sáu.

Tấm màn lớn của sự biến thiên vương triều, đã bị xé toạc một góc.

Biện Hà thành, phố Đông.

Sáng sớm sương mù vừa tan, mưa nhỏ rửa sạch con đường dài lát đá xanh. Cửa sau Thứ sử phủ, năm sáu người thợ được tên tiểu tư dẫn vào phủ.

Thứ sử phủ muốn sửa hậu hoa viên, nghe nói mẫu thân của Thứ sử đại nhân mấy ngày nữa sẽ đến.

Thứ sử Trần Hữu Lương là người con hiếu thảo, mẫu thân muốn đến trong phủ, dù có túng thiếu đến mấy cũng phải sửa sang hoa viên cho mẫu thân.

Biện Châu là nơi trọng yếu cửa ngõ của vận hà Bắc Nam nhà Đại Hưng, vận tải đường thủy nuôi béo đám quan lại lớn lớn nhỏ nhỏ trong quan phủ, Thứ sử phủ vốn dĩ không nên thiếu bạc, nhưng nài sao Trần Hữu Lương là một quan thanh liêm. Ông nhậm chức ở Biện Châu năm năm, không gặp thương gia, không nhận lễ vật hiếu kính, không dự tiệc rượu của đồng liêu, trong Thứ sử phủ nước trong đến mức nhìn thấy đáy.

Triều đình hôn ám, dòng quan thanh liêm thật đáng quý. Trần Hữu Lương hai tay thanh phong, mặt sắt vô tư, rất được văn nhân thiên hạ ngưỡng mộ, có thanh danh khá cao trong đám học trò, trăm họ kính ông là thanh thiên.

Nhưng thanh thiên thuê thợ làm việc cũng phải trả bạc, tiền công của Thứ sử phủ trả thấp, ít người nguyện ý đến, tìm tới tìm lui chỉ tìm được năm sáu người thợ này.

Hậu hoa viên của Thứ sử phủ khá là tú lệ, chỉ có điều lâu năm không tu sửa, chăm sóc lười nhác, lối nhỏ lát đá xanh đầy rêu xanh, dưới chân núi giả cỏ dại mọc um tùm. Tên tiểu tư dẫn đám thợ vòng đến một tòa gác lầu ẩn hiện trong rừng hải đường, thời tiết này, hoa hải đường đã tàn, trên đất cánh hoa tàn rụng khắp nơi, đỏ rực nhuộm màu hồ nước biếc trong.

"Chính chỗ này. Sơn của gác lầu phải sơn lại, ngói trên mái nhà cũng phải sửa lại một lượt, cỏ dại trong sân cũng dọn sạch. Mấy chỗ núi đá bên hồ phía trước đã lỏng, phải trồng lại cho chắc, kẻo lão phu nhân đến muốn thưởng thức cảnh hồ, dẫm lên lỏng chân. Những việc này làm xong trong hai ngày, ban đêm trong phòng tiểu tư trong phủ có giường tập thể, tự có người dẫn các ngươi đi." Tên tiểu tư dặn dò một phen rồi lui sang một bên, vậy mà không có ý rời đi, hiển nhiên là muốn đứng đây giám sát công việc.

Đám thợ nhấc đồ đạc của mình chia công làm việc, một hán tử cúi đầu lẩm bẩm, "Làm phu hai ngày, trả tiền công một ngày, còn mặt mũi giám sát công việc."

Người khác nghe thấy nói: "Được rồi được rồi, ngươi không phải cũng đến sao?"

"Nếu không phải Thứ sử đại nhân là thanh thiên trên đầu trăm họ Biện Châu chúng ta, ai nguyện ý đến?"

"Vậy ngươi còn oán thán!"

"Ta đây không phải nhìn tên tiểu tư kia không vừa mắt sao, nhìn bộ mặt hắn dài thuỗn ra, cứ như chúng ta mới là kẻ thiếu nợ."

Hai người nhỏ giọng lẩm bẩm, một thiếu niên xách thùng sơn đi ngang, đi đến dưới cây cột trước cửa gác lầu dừng lại, cúi đầu cụp mắt, lặng lẽ làm việc, đáy mắt chứa đầy vẻ chế giễu.

Thanh thiên?

Cha cũng nói Trần Hữu Lương là thanh thiên, năm đó khéo léo từ chối điều đến nha thự Biện Hà thành, khiến ông day dứt nhiều năm.

Năm đó, trong Biện Hà thành xảy ra đại án mạng liên hoàn, cha lần đầu phụng công văn đến Biện Hà thành khám nghiệm tử thi, vì biểu hiện rất tốt được Trần Hữu Lương coi trọng, và có ý định điều ông từ Cổ Thủy huyện đến Biện Hà thành nhậm chức. Cha lại không muốn rời khỏi Cổ Thủy huyện, ông nói mộ của mẹ ở đó, mỗi tháng ngày mùng một và ngày mười lăm đều đến quét dọn tế bái, sợ một khi đi rồi thì không thể thường trở về, để mộ mẹ hoang phế tiêu điều.

Mộ Thanh biết, đây chỉ là một trong những nguyên nhân.

Cha là đang lo nghĩ cho nàng.

Đến Biện Hà thành, cha vẫn là ngỗ tác, không thoát được tiện tịch, chỉ là bổng lộc cao hơn chút. Trong nhà thanh bần, cha không phải không muốn nhiều bổng lộc hơn, chỉ là trong lòng lo lắng chuyện chốn về sau của nàng. Nàng theo cha rơi vào tiện tịch, mẹ là quan nô, từ nhỏ đã bị thầy tướng số phán là mệnh cứng, một đứa con gái cả ngày ở Nghĩa Trang mân mê xương cốt người chết, tuy có danh hiệu Âm Ty Phán Quan, rốt cuộc vẫn không hợp lễ pháp phụ nữ.

Biện Hà thành quan lại phú thương khắp nơi, nàng với xuất thân như vậy, lời đồn như vậy, nhất định khó có ai để mắt, cũng khó có ai dám cưới. Cha không muốn nàng làm thiếp cho người ta, ông nói năm đó mẹ thà gả cho ông cũng không muốn làm thiếp cho tri huyện, nàng rất có phong cốt của mẹ, quyết không để nàng đi con đường mà mẹ không muốn đi.

Cha mong nàng gả cho một thiếu niên thật thà, trong thành nhà ai có thiếu niên lang tốt, ông đã sớm có tính toán trong lòng. Đi đến Biện Hà thành, đất lạ người không quen, sợ nhìn lầm người, lỡ dở cả đời nàng.

Cha là hán tử chất phác, thật thà ít nói, chưa từng nhắc chuyện hôn sự trước mặt nàng. Ngày nàng cập kê, đêm ăn mì thọ, cha nhắc mấy câu, nàng còn chưa tỏ thái độ, ông đã đỏ mặt trong ánh nến trước.

Trong ký ức, cha còn có một lần mặt mày hồng hào như vậy, ngày đó ông khám nghiệm tử thi từ Biện Hà thành trở về, vào cửa liền nói vụ án đã có manh mối, Trần đại nhân giữ ông dùng cơm trong phủ, ban thưởng một bàn rượu thức ăn.

Thứ sử Biện Châu, chính tứ phẩm, quan lớn nhất Biện Châu, cùng hắn một tiểu lại ngỗ tác huyện nha không có phẩm cấp ngồi chung một nhà dùng cơm, còn không chê ông trên người có mùi người chết. Mộ Hoài Sơn trở về nhà, nhắc đến chuyện này hưng phấn mấy ngày, từ đó đối với Trần Hữu Lương càng thêm kính trọng, đối với chuyện năm đó không biết điều khéo léo từ chối sự đề bạt của ông lại càng thêm day dứt.