Hạc Lệ Hoa Đình Chương 10 Nước mắt còn vương áo

Ngay khi Định Quyền nghĩ đến Hứa Xương Bình, thì Hứa Xương Bình cũng đã về đến nhà ở ngõ Giao phía Đông kinh thành. Buộc ngựa ở tiền viện, phủi đi bụi đường trên y phục, y mới nhấc chân bước vào trong nhà. Lão bộc trong nhà tai bị lãng, lúc này mới nghe thấy y đã trở về, vội bước lên hỏi: "Tướng công đã về rồi sao? Để lão đi bưng cơm lên."

Hứa Xương Bình gật đầu cười nói: "Được, ta cũng đói lắm rồi."

Cơm nước dọn lên bàn, vô cùng đạm bạc, chẳng qua chỉ là một đĩa rau chân vịt, một đĩa đậu phụ. Y lấy trên giá một cuốn "Chu Dịch" để ăn cùng cơm, vừa ăn vừa tùy ý lật xem, chợt đọc được một câu trong quẻ Khôn: "Bề tôi giết vua, con giết cha, không phải là chuyện một sớm một chiều, mà nguồn cơn đã tích tụ dần dà."

Trước khi kịp nhớ đến lời nói và thần thái của Thái tử, y lại nhớ đến mảnh giấy mà người đó đã cho mình xem.

Mảnh giấy kia không có tiêu đề, không có lạc khoản, xét về nội dung thì chắc chắn là gửi cho Trương Lục Chính, xét về thư pháp thì cũng chắc chắn là thủ bút của Thái tử. Nghiệp sư của Thái tử là đại gia thư pháp của triều đại này, Thái tử tuy còn trẻ nhưng về thư đạo lại có thành tựu cực cao, không bàn đến chuyện tinh thông cả Chân, Hành, Thảo, mà còn tự tạo ra phong cách mới trên nền tảng của thầy. Tuy không thoát khỏi phạm trù hành khải, nhưng dùng bút lông cứng đi nét mạnh, nhiều xương ít thịt, nét ngang nét sổ khi thu bút thường hồi phong, nét phẩy sắc như dao, nét mác tựa thép gập, tư thế và tốc độ ở những chỗ móc, hất vô cùng cầu kỳ, có vẻ đẹp của loan phượng vươn đầu. Người ta bảo chữ của hắn như kiếm đồng xanh khảm vào tơ vàng bạc, phong mang lộ rõ, vừa thanh quý vừa trang trọng, từng có nhà thư pháp nổi tiếng ví von là: Đúc lầm Lệ Thủy, ngọc nát Côn Sơn. Lối thư pháp này khó mà giấu dốt, hoàn toàn dựa vào bút lực để chống đỡ, cực khó mô phỏng. Hơn nữa Thái tử bình sinh rất giữ gìn thanh danh, hiếm khi phô diễn kỹ nghệ, ngay cả công văn dâng lên Hoàng đế cũng đều dùng chữ khải ngay ngắn, cho nên người thực sự được chiêm ngưỡng không nhiều. Trong triều có lời đồn rằng, một ngày nọ Thái tử nhận lời mời của một vị Hàn lâm, đến viện xem bức cổ thiếp hành thảo mà ông ta sưu tầm, đã gạt bỏ mọi lời bàn tán, chỉ ra đó là thiếp giả, trần thuật nguyên do, nói đến chỗ đắc ý quên hình, buột miệng thốt lên: "Ví như nét chữ này của Cô, trừ phi dùng kỹ thuật song câu điền quách, họa may mới có thể miễn cưỡng giống về hình, còn đương thời e rằng chưa ai có thể nhái được, cũng coi như đỡ cho người đời sau cái công lao phân biệt thật giả."

Chuyện đó chưa chắc đã là thật, nhưng cứ theo những gì mắt thấy hôm nay, Thái tử bình sinh viết văn thư cho cận thần không đề lạc khoản hay ấn tín, ý tứ thận trọng cố nhiên là có, nhưng cậy tài tự phụ quả cũng không sai.

Tự phụ như thế lại cẩn trọng dè dặt như thế, kiêu ngạo như thế lại nhạy cảm đa nghi như thế, tính tình của người đó, không cần nhìn thần thái ngôn hành, chỉ cần nhìn mảnh giấy kia là đủ biết. Sự tự phụ kiêu ngạo của hắn nhất định sẽ thu nhận mình, nhưng sự cẩn trọng nhạy cảm của hắn nhất định sẽ không hoàn toàn tin tưởng mình. Xem ra ngày sau chung đụng với vị chủ quân này còn khó khăn hơn nhiều so với tưởng tượng, Hứa Xương Bình đặt cuốn sách trên tay xuống, day trán khẽ thở dài một hơi.

Sứ thần mà Định Quyền phái đi làm việc khá được việc, chỉ trong sáu bảy ngày đã hoàn thành sứ mệnh, về phục mệnh với Định Quyền. Định Quyền đang cầm một con dao nhỏ khảm vàng rọc một cuộn giấy Tạng Kinh mới làm, thấy hắn vào phòng liền hỏi: "Đã tra hỏi rõ ràng cả chưa?"

Sứ thần bẩm báo: "Dạ rồi."

Định Quyền đặt dao vàng xuống, nói: "Nói đi."

Sứ thần báo cáo: "Lại thư đại nhân đã tránh tai mắt của Ty Kê Huân, đích thân kiểm tra thiếp hoàng của quan viên Chiêm phủ, Hứa chủ bạ kia nguyên quán ở Sâm Châu, năm nay hai mươi ba tuổi, là Tiến sĩ năm Thọ Xương thứ sáu, đứng thứ một trăm mười tám trong danh sách đệ tam giáp."

Định Quyền "ồ" một tiếng, lạ lùng nói: "Lại trẻ tuổi như vậy sao."

Sứ thần nói: "Đúng vậy. Nghe nói mẹ ruột hắn tư thông với người ta, sinh hắn ra không bao lâu thì qua đời. Nhà hắn không còn ai khác, đành phải sống cùng người dì đã xuất giá, dì hắn khi đó mới cưới không lâu, chồng bà vừa khéo được điều chức vào kinh, bèn đưa cả hắn đến kinh thành sinh sống. Dượng của hắn họ Hứa, là người trung hậu, nhận hắn làm con nuôi, nên hắn cũng đổi sang họ Hứa."

Định Quyền nói: "Hóa ra dì của hắn chính là mẹ nuôi."

Sứ thần gật đầu: "Đúng vậy. — Cha nuôi của hắn được điều vào kinh nhận chức, là thị vệ của Cựu cung, năm Định Tân thứ năm không biết vì chuyện gì mà bỏ việc, đưa cả nhà về quê hương Nhạc Châu. Thứ hạng khoa cử của hắn bình thường, nên không được vào Hàn lâm, phải tốn một khoản tiền lớn lo lót tứ phương mới được giữ lại kinh sư vào Lễ bộ. Ở Thái Thường Tự ba năm, không có thành tích gì đáng kể, khảo sát cuối năm, lời phê cũng chỉ ở mức thường. Lần này gặp lúc nhân sự Chiêm phủ biến động, chức chủ bạ bị khuyết, Phó Thiếu Chiêm vốn là Thái Thường Khanh, bình thường quan hệ với hắn rất vui vẻ, bèn đưa cả hắn vào theo, có điều đồng liêu ở Thái Thường Tự cũng có người nói trong đó có chuyện nhận hối lộ, chỉ là hắn vào Chiêm phủ, so với trước kia còn bị giáng nửa cấp, nên lời này cũng chẳng mấy ai tin. Nghe nói khi ở Thái Thường Tự hắn hay nghe ngóng chuyện thị phi, nhưng thời gian đến Chiêm phủ còn ngắn, chỉ ngồi trực ban đàng hoàng, chưa từng làm chuyện gì khác."

Định Quyền hỏi: "Trong nhà hắn còn những ai?"

Sứ thần đáp: "Hắn tự mình dẫn theo một lão bộc và một tiểu đồng thuê một gian nhà ở phía Đông kinh thành. Ở quê nhà vẫn còn hai người anh em họ, cha nuôi vẫn còn, mẹ nuôi đã mất. Nhạc Châu cách kinh sư không xa, thần đã đích thân đi một chuyến."

Định Quyền hơi suy nghĩ, hỏi: "Mẹ nuôi hắn là người chưa đến bốn mươi, sao lại qua đời rồi?"

Sứ thần nói: "Chuyện này không biết rõ, chắc là do bệnh tật."

Định Quyền lại hỏi: "Hai người anh em của hắn, bao nhiêu tuổi rồi?"

Sứ thần kia ngẩn ra, ngẫm nghĩ một lát mới đáp: "Người lớn chừng mười bảy mười tám, người nhỏ chỉ khoảng mười tuổi."

Định Quyền gật đầu, nói: "Việc này làm rất tốt, cũng đã làm phiền ngươi rồi, về nghỉ ngơi cho khỏe vài ngày đi."

Sứ thần vội vàng tạ ơn, lúc này mới lui ra ngoài.

Định Quyền bấm đốt ngón tay tính toán, em trai út của Hứa Xương Bình sinh năm Định Tân thứ ba, cùng năm sinh với công chúa Hàm Ninh, năm Định Tân thứ tư người nhà hắn rời kinh, hẳn là bị liên lụy bởi chuyện công chúa chết yểu. Trước sau ăn khớp, kín kẽ vô cùng, không chút sơ hở, xem ra người này chuyện này quả nhiên không nói dối. Hắn thở phào nhẹ nhõm, thuận tay cắt một tờ giấy, hạ bút viết mấy chữ, niêm phong kỹ rồi giao cho cận thị, dặn dò: "Đưa cái này đến phủ của Hứa chủ bạ thuộc Chiêm phủ."

Hứa Xương Bình nhận được thư, chỉ thấy trên phong bì không có nửa chữ, trong thư cũng chỉ có một dòng: "Cây cao lắm gió buồn."

Hơi suy tư, y đặt bút viết phía dưới cũng đúng năm chữ, nói với tín sứ: "Phiền chuyển trình Điện hạ."

Tín sứ quay về dâng thư hồi đáp, Định Quyền mở ra xem, lại là một câu: "Bay lượn vờn trời xanh."

Hắn không kìm được khẽ cười, vo tròn tờ giấy đó, thuận tay ném vào tráp sách. Nhìn ra phía sân triều đình, buổi chiều xuân tươi sáng, tơ trời lãng đãng, hai con người cùng linh lung thấu đáo như nhau, trong khoảnh khắc này dường như đều nhìn thấy nụ cười trên gương mặt của đối phương.

Cuối xuân, Lễ bộ tâu rằng xuân này hiếm mưa, thỉnh cầu Hoàng thượng cử hành lễ Vu tế. Hoàng thượng xét thấy triều đình những năm gần đây hay dùng binh, toàn bộ đều dựa vào nông trang làm gốc, không dám lơ là, bèn hạ lệnh từ ngày hai mươi bảy tháng ba, quần thần phải trai giới ba ngày. Trong thời gian đó, lệnh cho Thái thường khanh Phó Quang Thời đi tỉnh sinh, lại tự mình viết chúc bản, cáo miếu hành lễ. Đến ngày chánh tế, Ngài mặc thường phục đi bộ đến Đại thứ, thay tế phục, đích thân chủ trì tế tự. Sau khi trở về còn phải đến Thái miếu tham bái đọc chúc văn, đến đó lễ mới coi như hoàn tất. Theo chế độ của triều đình, Thái tử tuy không cần bồi tế cùng Hoàng thượng, nhưng phải lưu lại trong cung thủ cư, mặc nhung phục Thân vương để hầu hạ, trai giới y như Hoàng thượng và bá quan. Bởi vậy, Định Quyền từ ngày hai mươi sáu đã cùng Tề Vương và Triệu Vương túc trực trong cung, tắm gội trai giới. Mãi đến ngày ba mươi mốt, khi Hoàng thượng từ Thái miếu hồi cung, các vị mới đến thỉnh an hầu cơm, thuận tiện lắng nghe Hoàng thượng giáo huấn đủ điều không dứt, đợi đến khi Hoàng thượng đi ngủ mới cùng hai vị Vương gia xuất cung. Cả ba người đều mệt mỏi rã rời, đói đến hoa mắt chóng mặt, cũng chẳng buồn hư tình giả ý với nhau nữa, ra đến cửa cung thì từ biệt, ai nấy lên ngựa, quay về phủ đệ.

Chu Ngọ đã sớm dẫn người đứng đợi ở cửa cung Tây Uyển. Định Quyền thuận tay ném roi ngựa cho hắn, đi vào trung đình, trước tiên có vài người tiến lên giúp thay y phục, lại dâng thức ăn lên. Định Quyền đói quá hóa ra lại nuốt không trôi, miễn cưỡng ăn vài miếng canh cá rồi muốn đi nghỉ. Chu Ngọ thấy chàng đứng dậy, vội vàng đi theo. Định Quyền nhíu mày nói: "Ta mệt lắm rồi, có việc gì để mai hãy nói."

Chu Ngọ nhìn quanh tả hữu, vẻ mặt khó xử, ấp úng không chịu nói. Định Quyền tuy trong lòng phiền muộn nhưng cũng hết cách, đành dẫn hắn vào noãn các, giọng không vui hỏi: "Rốt cuộc là chuyện gì?"

Chu Ngọ từ trong ngực lấy ra một phong thư, hai tay dâng lên cho Định Quyền. Định Quyền cầm lấy xem, sắc mặt tức thì biến đổi, lúc này mới nhớ lại trong đám cung nhân tùy hành tối nay không thấy bóng dáng người đó, bèn nghiêm mặt hỏi: "Đã tra xét chưa, là thật hay giả?"

Chu Ngọ đáp: "Đều đã tra xét, người nhà cô ta quả thực có nhận tiền nuôi dưỡng của phủ Tề Vương."

Định Quyền ngẩn ra một lát, bỗng giơ tay ném tờ giấy kia vào mặt Chu Ngọ, lệ thanh hỏi: "Thứ này ở đâu ra?"

Chu Ngọ thấy chàng nổi giận, đành cúi đầu cẩn trọng đáp: "Hôm Điện hạ nhập cung, Khấu Châu liền lĩnh nha bài, thay y phục xuất cung, bức thư này không biết là ai ném vào cửa nhà thần. Thần không dám coi thường, vội phái người theo dõi, đi theo cô ta đến tận cửa nhà, thấy có người ngồi xe đến gõ cửa, vào nhà một lát rồi đánh xe quay về. Người của thần bám theo suốt dọc đường, thấy người nọ xuống xe đi vào cửa sau của phủ Tề Vương. Thần lúc này mới dám bắt Khấu Châu để tra hỏi, hiện giờ cô ta đều đã nhận tội, từ khi còn ở trong cung đã bị Tề Vương mua chuộc, mãi cho đến khi theo Điện hạ hôn lễ nhập Tây Uyển, làm tai mắt cho hắn."

Sắc mặt Định Quyền trắng bệch, hồi lâu mới hỏi: "Nha bài của nó là do ai cấp?"

Chu Ngọ hơi chần chừ, nhưng vẫn cứ thực tình đáp: "Điện hạ xưa nay sủng ái cô ta, chuyện này ai mà không biết? Tự nhiên có kẻ trên người dưới xu nịnh. Cô ta chỉ cần sai một người đi lĩnh, bất kể là việc gì, cũng hiếm khi có ai không cho."

Thấy Định Quyền nghiến răng không nói, hắn lại khuyên: "Điện hạ đừng tức giận, thần đã nói từ sớm, nô tỳ làm phu nhân, ấy là mầm tai họa. Điện hạ mấy năm nay xa lánh Lương đệ và Nhụ tử, lại không có con nối dõi, thần lo lắng không thôi. Nay may mà trời xanh có mắt, không để kẻ ti tiện tiếp tục mê hoặc thánh chủ nữa."

Định Quyền bột phát cơn thịnh nộ quát: "Cái gì gọi là trời xanh có mắt? Chuyện âm tư bí mật đều đã làm ra cả rồi, cái Tây Uyển này ngươi quản lý thành ra cái dạng gì? Ta không được tức giận sao? Người của ta ngươi muốn bắt là bắt, ta còn cái gan nào dám tức giận với ngươi?"

Chu Ngọ vội dập đầu tạ tội: "Thần quả thực có tội thất sát, xin tùy Điện hạ xử trí, nhưng thần một tấm lòng son, còn xin Điện hạ soi xét."

Định Quyền thở hắt ra, lại hỏi: "Người hiện đang ở đâu?"

Chu Ngọ đáp: "Đang giam ở hậu uyển, đợi Điện hạ định đoạt."

Định Quyền ngẫm nghĩ, phất tay nói: "Cứ giam lại trước đã, Cô mệt rồi, muốn đi nghỉ."

Nhìn thấy bức thư kia vẫn nằm trên đất, lửa giận lại bốc lên, chàng nói: "Thu dọn cho kỹ, cái Tây Uyển này dù có lật tung lên cũng phải tra cho rõ, bắt đầu tra từ những người bên cạnh Cô."

Nói xong đi thẳng đến giường nằm xuống, Chu Ngọ đành vâng dạ lui ra.

A Bảo cùng những người khác hầu hạ bên cạnh, cởi giày rửa chân cho chàng. Định Quyền một cước đá đổ chậu đồng, quát: "Cút xuống hết!"

A Bảo tuy giật mình hoảng sợ, nhưng cũng biết chàng đang phiền não vì chuyện Khấu Châu, bèn không lên tiếng, ra hiệu cho những người khác lui trước, tự mình lặng lẽ thu dọn xong xuôi mới từ trong các lui ra. Định Quyền nửa đêm không ngủ được, trong lòng nôn nao, trằn trọc bất an, đến lúc gà gáy mới mơ màng ngủ thiếp đi, lại là những giấc mộng ngổn ngang triền miên. Hôm sau bị tiếng mưa ngoài cửa sổ đánh thức, dậy rồi mới biết đã ngủ đến tận quá trưa.

Khi Chu Ngọ giải Khấu Châu vào noãn các, nàng vẫn mặc bộ y phục nội thị lúc xuất cung, tóc mai hơi rối, trên mặt thoáng nét thê lương nhưng ít vẻ sợ hãi. Định Quyền tay nâng chén vàng đứng trước cửa sổ, lưng quay về phía một trời gió mưa, thấy Khấu Châu định hành lễ, bèn giơ tay phân phó: "Không cần đâu, ngươi ngẩng đầu lên."

Thấy nàng y lời ngẩng đầu, chàng bình tĩnh hỏi: "Đều là thật sao?"

Khấu Châu gật đầu, khẽ đáp: "Vâng."

Định Quyền xưa nay tính khí không tốt, lúc này nghe lời ấy, lại chẳng có vẻ gì là muốn nổi giận, chỉ bước lên hai bước, hất chén trà nguội trong tay vào mặt Khấu Châu, nhàn nhạt nói: "Tiện nhân."

Thần tình trên mặt chàng, nửa như khinh bỉ nửa như thất vọng. Khấu Châu trong lòng đau đớn kịch liệt, trầm giọng nói: "Thiếp hầu hạ Điện hạ bốn năm, thẹn mặt hiến thân cũng gần hai năm, cảm kích ơn sâu của Điện hạ, tự hỏi chưa từng làm ra chuyện gì phụ lòng Điện hạ."

Định Quyền cười khẽ, nói: "Đó đều là lời mộng mị trẻ con, đem ra lừa gạt ta cũng tốt thôi. Ta đối với ngươi cũng chỉ bình thường, cũng chưa từng ban ơn cho người nhà ngươi, ngươi đã ăn lộc của người, tự nhiên phải trung thành với việc của người, ta không trách ngươi."

Khấu Châu đau lòng lắc đầu, nhưng không đáp lời nữa. Nàng lau nước trà trên mặt, bước lên phía trước, đưa tay dịu dàng giúp chàng chỉnh lại tóc mai rối bời lúc mới ngủ dậy, thuận thế từ từ đưa tay về, đặt lên trán mình, quỳ xuống dập đầu nói: "Tội của thiếp hôm nay, là do gieo gió gặt bão, xin tùy Điện hạ xử trí."

Định Quyền đứng lặng hồi lâu, mới mở miệng nói: "Ngươi về nhà đi, mọi đồ đạc của ngươi trong cung, cũng cho phép ngươi mang đi hết. Sau này thành gia lập nghiệp, có một khắc nửa khắc còn nhớ đến lời hôm nay, thì coi như không phụ ta rồi."

Nói xong phất tay áo đi vào nội thất. Khấu Châu dõi mắt nhìn bóng lưng chàng đi xa, khẽ nói một câu: "Điện hạ bảo trọng."

Khấu Châu bị người giải đi khỏi cung Báo Bản, dọc đường đều có cung nhân nội quan đứng từ xa chỉ trỏ, thấy đoàn người đi tới liền tản ra. Chỉ có một mình A Bảo đứng đợi ở hành lang ngoài cửa phòng nàng. Khấu Châu nhìn nàng cười, nói: "Ta sắp đi rồi, ngươi đã ở đây, thì phiền ngươi chải đầu giúp ta một lần đi."

A Bảo theo nàng vào trong phòng, mở hộp trang điểm, giúp nàng gỡ bỏ búi tóc, hỏi: "Quý nhân tỷ tỷ muốn chải kiểu đầu gì?"

Khấu Châu mỉm cười nói: "Trong danh sách cung nữ, ta vẫn là gái chưa chồng. Nay về nhà rồi, hãy chải cho ta kiểu song hoàn đi."

A Bảo vâng một tiếng, dùng lược chải mái tóc xanh dày của nàng rẽ ngôi giữa cẩn thận, búi thành hai vòng tròn. Khấu Châu nhìn gương mặt hai người trong gương đồng, đột nhiên cười nói: "Lần đầu tiên ta gặp ngươi, ngươi cũng là bộ dáng này nhỉ."

A Bảo khẽ đáp: "Vâng."

Khấu Châu nói: "Lúc đó ta đã nghĩ, cô bé này nhất thời thành công rồi, nhưng cuối cùng không biết là phúc hay là họa. Thế nhưng sau này xem cách ngươi đối nhân xử thế, mới biết rằng, tiền đồ của ngươi không thể hạn lượng."

Chiếc lược trong tay A Bảo dừng lại, nàng phân bua: "Quý nhân tỷ tỷ, em..."

Khấu Châu lắc đầu cười nói: "Ta ở trong cung hơn mười năm rồi, ở bên cạnh Điện hạ cũng bốn năm năm, có vài chuyện đã nhìn thấy quá nhiều. Cầu ân cũng được, tranh sủng cũng được, hay gì khác cũng được, mong muốn của mỗi người, lựa chọn của mỗi người, không cần trách cứ, cũng chẳng thể trách cứ. Ngay cả bản thân ta, chẳng phải cũng đi qua như vậy sao."

Lại nói: "Hôm nay từ biệt, e rằng vĩnh viễn không còn ngày gặp lại. Ngươi chải tiếp đi, ta nói cho ngươi nghe một bí mật."

Nàng nhắm mắt lại, tựa như đang nói cho A Bảo nghe, lại tựa như đang nói cho chính mình: "Khi Thái tử phi vừa mới mất, có lẽ chuyện triều chính cũng không thuận lợi, người thường hay nổi giận. —— Khi người nổi giận trông rất đáng sợ, chẳng ai dám khuyên giải nhiều. Chỉ có ta nghĩ, đây có lẽ là cơ duyên trời ban. Lúc ấy ở trong cung, ai ai cũng khen ngợi dung mạo của ta, ta cũng tự thấy mình từng đọc vài ba cuốn sách ở Nội Thư Đường, thực lòng không cam tâm cả đời bị chôn vùi nơi thâm cung. Đêm hôm đó, ta cũng giống như ngươi, đánh cược một lần, sau khi theo mọi người ra khỏi điện lại lặng lẽ quay trở về. Trong các chỉ còn một mình người, có lẽ là đã say, cuộn mình nơi góc giường bất động. Thấy ta bước vào, người hỏi: Tại sao các ngươi đều đi cả rồi? Ta đáp: Là điện hạ bảo chúng nô tỳ lui ra. Người nhíu mày, nói với ta: Ta không có. Người lại bảo: Nàng đừng đi."

Nàng tĩnh lặng kể, A Bảo tĩnh lặng lắng nghe: "Ta biết đó là lời nói say, nhưng vẻ mặt người đầy ủy khuất, cứ như đang nói thật vậy. Ta nghe thấy tim mình thót một cái rồi chìm xuống, ngay khoảnh khắc ấy, ta hiểu rằng tâm ý của mình đã thay đổi."

"Ngày trước đọc sách ở Nội Thư Đường, ta vẫn còn nhớ một câu thơ: 'Nhân sinh mạc tố phụ nhân thân, bách niên khổ lạc tùy tha nhân' (Kiếp người chớ mang thân đàn bà, trăm năm sướng khổ phụ thuộc người ta). Ta sinh ra là phận nữ nhi, sống trên thế gian này, cũng chỉ đành để người đưa đẩy. Nhưng duy chỉ có trái tim này là thuộc về một mình ta, ta không muốn làm trái lại nó." Nụ cười nhàn nhạt hiện lên nơi khóe môi nàng, nàng mở mắt, đôi mắt long lanh vương chút lệ: "Cho nên, chuyện đến nước này, ta cũng không cảm thấy mình có gì hối tiếc."

Tóc song hoàn đã búi xong, nàng quay đầu lại nắm lấy tay A Bảo, nói tiếp: "Ta chỉ có chút không yên lòng về người. Nếu chỉ là tranh sủng, xin ngươi hãy dùng thêm một phần tình, được không? Nếu còn vì điều gì khác, cầu xin ngươi hãy giữ lại một phần tình, được không?"

A Bảo rút tay về, hoảng hốt lắc đầu, nhưng khi nhìn thấy thần sắc của nàng, lại chần chừ gật đầu.

Khấu Châu xoay người lại, ngắm nghía dung nhan mình trong gương trái phải, cười nói: "Vẫn là dáng vẻ này —— trông chẳng thay đổi chút nào."

A Bảo đứng dưới hành lang dõi mắt nhìn nàng đi xa. Mưa xuân rả rích, nàng lại chẳng hề che dù, ngoài bộ y phục màu xanh trên người, nàng chẳng mang theo bất cứ thứ gì. Bóng hình màu xanh ấy khuất sau những đóa hoa lê trắng muốt bên du lang, rồi không còn nhìn thấy nữa. A Bảo có thể tưởng tượng được, khi nàng đến cũng là như vậy, tóc xanh, mặt hoa, niên hoa tươi đẹp, có thể thay đổi gì được chứ?

----------------------------------------

Lời tác giả: Kim Thác Đao là một danh loại trong thư pháp, do Lý Dục sáng tạo, nay đã thất truyền, ở đây mượn tên dùng tạm. Các bạn am hiểu lịch sử thư pháp chắc chắn biết đây thực ra là loại chữ nào.